05/08/2011

Lịch làm từ tranh dân gian Đông Hồ

Để thân thiện hơn với người dùng, hàng năm, ngoài việc in các bức tranh rời, gia đình hai nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam và Nguyễn Đăng Chế còn in thành những cuốn lịch với kích thước y như tranh gốc và có mành tre làm nền.

Dưới đây là một mẫu lịch năm Tân Mão 2011 của gia đình hai nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam:

Con mèo mà trèo cây cau...
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà?
Tranh Vinh hoa
Tranh Chăn trâu thổi sáo
Tranh Hứng dừa
Tranh Đàn lợn âmdương
Tranh Gà dạ xướng
Mành tre làm nền


Nguyễn Trần Bình
đọc tiếp...

Thiệp từ tranh dân gian Đông Hồ

Ngày nay, làng tranh Đông Hồ không chỉ sản xuất tranh Đông Hồ mà còn thu nhỏ những bức tranh này lại thành những bức thiệp.

Dưới đây là một số mẫu thiệp Đông Hồ được sản xuất ở hai gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và Nguyễn Hữu Sam:




Tranh Đàn lợn âm dương

Tranh Phú quý

Tranh Phú quý

Hình trên bao của thiệp trích từ tranh Hứng dừa.

Nguyễn Trần Bình
đọc tiếp...

04/08/2011

Ý nghĩa của tranh Đông Hồ

Tranh Đông Hồ có được sức sống lâu bền và có sức cuốn hút đặc biệt với nhiều thế hệ con người Việt Nam cũng như du khách nước ngoài như vậy cũng bởi những đề tài trên tranh phản ánh đậm chất cuộc sống mộc mạc, giản dị, gần gũi gắn liền với văn hoá người Việt. Đó là con gà, con trâu, con cóc, con chuột; cảnh chăn trâu, đi bừa; các trò chơi vui ngày xuân như bịt mắt bắt dê, đánh đu, đấu vật… Nét vẽ giản dị, trong sáng, khoáng đạt chứ không cầu kì đi vào chi tiết. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế cho biết việc dùng màu sắc trong tranh cũng có ý nghĩa riêng và phải phù hợp với mỗi đề tài khác nhau: nền màu đỏ cho tranh đánh ghen để lột tả được cái nóng giận bực bội ngột ngạt của không khí lúc đó, nền màu vàng cho cảnh vui tươi tràn ngập sắc xuân trên các bức tranh ngày tết, nền màu hồng nhạt cho tranh làng quê yên bình…
tranbinhkb

Photobucket
đọc tiếp...

Tranh tứ bình trong dòng tranh dân gian Đông Hồ

Bên cạnh các tranh có kích cỡ nhỏ, lẻ như Hứng dừa, Đánh ghen, Đàn lợn âm dương, Đấu vật… hay tranh cặp như cặp tranh chăn trâu, cặp Ông Tơ – Bà Nguyệt, cặp Chim lồng – Cá chậu,…thì trong dòng tranh dân gian Đông Hồ còn có không ít bộ tranh tứ bình – bốn bức khổ lớn. Tranh tứ bình giàu tính lãng lãng mạn, đường nét tinh tế, sang trọng, tranh khổ lớn nên rất phù hợp với những gian nhà rộng rãi, khang trang.

Sau đây, tôi xin giới thiệu một số bộ tranh tứ bình mà tôi đã tận mắt được nhìn.

Dựa vào chủ đề của tranh, tôi xin chia các bộ tranh tứ bình ra làm ba thể lại:

1. Bộ tranh Tứ quý - Bốn mùa Xuân – Hạ - Thu – Đông:

a. Bộ Tứ quý có cây và chim - kiểu 1:

- Bản in dương bản ở nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế:



- Tranh in màu ở nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam:


b. Bộ Tứ quý có cây và chim - kiểu 2:



c. Bộ tranh Tứ quý hoa cắm trong bình:

- Tranh không màu ở nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả:


- Tranh có màu ở nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả:


Chú ý là bộ tranh Tứ quý này được in bản nét màu đen, sau đó tô màu hóa học thì tranh mới có màu tươi sang như vậy. Đây là sự cải tiến sau này của những người làm tranh, làm cho màu sắc của tranh Đông Hồ thêm phong phú.

- Nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả đang dùng bút lông tô bóng cho bộ tranh Tứ quý hoa cắm trong bình không màu:


2. Bộ tranh Tố nữ:

- Tố nữ mặc áo dài đứng chơi nhạc cụ ở nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả:


- Tố nữ mặc áo 5 tà ngồi chơi nhạc cụ ở nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả:


3. Các bộ tranh truyện:

- Truyện Tống Trân – Cúc Hoa ở nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả:


- Bộ tranh Bát tiên:

+ Ở nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế:


+ Ở nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam:


- Ngoài ra còn có bộ tranh Truyện Kiều, Thạch Sanh, Lục Vân Tiên… mà tôi vẫn chưa ghi lại hình được vì một số lý do khách quan. Dịp về quê sau xin chụp lên giới thiệu cùng các bạn.

Các hình trong bài này đều do tôi chụp tại làng Đông Hồ vào chiều ngày 8.11.2008 nhân dịp về thăm quê.

tranbinhkb
đọc tiếp...

Nghệ thuật trong tranh Đông Hồ

Sáng tạo nghệ thuật trong tranh Đông Hồ không phải là cảm hứng trong sáng tác. Mỗi bản in thể hiện một truyền thuyết hoặc một câu chuyện ngụ ngôn mang tính triết lí, một bức thông điệp đầy màu sắc về đạo đức, luân lí và tín ngưỡng sâu sắc, hay một thông điệp từ hàng ngàn năm trước của cha ông. Tranh in cũng thể hiện tính dí dỏm, khung cảnh ấm cúng của Tết Nguyên Đán đó là: hạnh phúc, may mắn và thịnh vượng. Các con vật gần gũi với làng quê như cóc, gà, vịt, trâu, rồng và cá là biểu trưng cho hạnh phúc, thịnh vượng, sự chăm chỉ cần cù, thông minh. Chúng ta cũng có thể thấy những bình luận về xã hội phong kiến qua các hình tượng tranh Đông Hồ. Bức tranh nổi tiếng Đám cưới chuột là sự thể hiện tài tình các thói hư tật xấu của xã hội phong kiến thông qua hình tượng các con vật một cách dí dỏm và sâu sắc.


Đám cưới chuột
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

Tranh làng Ðông Hồ không phải vẽ theo cảm hứng nghệ thuật mà người ta dùng ván để in. Bởi vậy, chất lượng nghệ thuật của tranh phụ thuộc khá nhiều vào bản khắc gỗ. Ðể có những bản khắc đạt đến trình độ tinh xảo như vậy đòi hỏi phải có người vẽ mẫu trước. Những người vẽ mẫu và người chế tác bản khắc đòi hỏi họ phải có lòng yêu nghệ thuật và tâm hồn nghệ sĩ, đức tính tỉ mỉ và đặc biệt phải có trình độ kĩ thuật cao. Sau khi hoàn thành bản khắc thì công việc in tranh không còn khó khăn gì, một người mới vào nghề cũng có thể in được.
Trong tranh Đông Hồ, ta bắt gặp quan niệm “sống hơn giống”. Tranh dân gian Ðơng Hồ không áp dụng chặt chẽ về cơ thể học, các nguyên tắc về ánh sáng hay luật xa gần của tranh hiện đại mà mang nhiều tính ước lệ trong bố cục, trong cách miêu tả về màu sắc. Mặc dù sự vật, hiện tượng trong tranh không sát với thực tế đến từng chi tiết, và cũng có khá nhiều tranh trái với thực tế (như hình em bé ôm con cóc xấu xí, tranh em bé ôm con tôm, con cá với kích thước rất lớn) nhưng lại rất sống động, có hồn. Nghệ nhân làm tranh dường như ít quan tâm đến những qui tắc, công thức hình họa mà dụng công để thổi vào đó sự rung cảm của tâm hồn nghệ sĩ với những triết lí nhân sinh… Tất cả đều sử dụng lối vẽ đơn tuyến bình đồ để thể hiện, do đó xem tranh dân gian ta thường bắt gặp cái thú vị ở những nét ngây ngô đơn giản nhưng hợp lí hợp tình. Nghệ thuật vẽ của tranh Đông Hồ còn mang dáng dấp của nghệ thuật thời nguyên thủy. Điều này càng minh chứng cho tính cổ xưa của dòng tranh này.


Nhân nghĩa
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

Tranh Đông Hồ có được sức sống lâu bền và có sức cuốn hút đặc biệt với nhiều thế hệ con người Việt Nam cũng như du khách nước ngoài như vậy cũng bởi những đề tài trên tranh phản ánh đậm chất cuộc sống mộc mạc, giản dị, gần gũi gắn liền với văn hoá người Việt. Đó là con gà, con trâu, con cóc, con chuột; cảnh chăn trâu, đi bừa; các trò chơi vui ngày xuân như bịt mắt bắt dê, đánh đu, đấu vật… Nét vẽ giản dị, trong sáng, khoáng đạt chứ không cầu kì đi vào chi tiết. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế cho biết việc dùng màu sắc trong tranh cũng có ý nghĩa riêng và phải phù hợp với mỗi đề tài khác nhau: nền màu đỏ cho tranh đánh ghen để lột tả được cái nóng giận bực bội ngột ngạt của không khí lúc đó, nền màu vàng cho cảnh vui tươi tràn ngập sắc xuân trên các bức tranh ngày tết, nền màu hồng nhạt cho tranh làng quê yên bình …

Trần Văn Bình
đọc tiếp...

03/08/2011

Phân loại tranh Đông Hồ

Tranh Đông Hồ gồm có 5 thể loại:


1. Tranh Tâm linh: bộ Ngũ sự, Thần tài, Vũ đinh - Thiên ất, Tử Vi - Trấn trạch…

Bộ ngũ sự ở nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế
(Ảnh: Trần Thanh)

Cặp tranh Thiên ất - Vũ đinh
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)

2. Tranh lịch sử: Phù Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng), Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung...


Phù Đổng Thiên Vương
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)

3.Truyện tranh: Truyện Kiều, Thạch Sanh, Truyện Lục Vân Tiên, Tây Du Kí …

Thạch Sanh đánh trăn tinh
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

4. Tranh chúc tụng: là phổ biến nhất, ví như bộ tranh tứ quí Vinh hoa - Phú quý – Nhân nghĩa - Lễ trí, cặp tranh Tiến tài - Tiến lộc, Nghinh xuân, Vinh qui bái tổ, ông Tơ – bà Nguyệt, Gà đàn, Gà thủ hùng, tranh về lợn âm dương…


Vinh hoa
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

5. Tranh sinh hoạt: Đánh ghen, Chăn trâu thổi sáo, Chăn trâu thả diều, Nhà nông, Đám cưới chuột, Hứng dừa, ...


Hứng dừa
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)
Trần Văn Bình
đọc tiếp...

Giấy dó - Chất liệu của tranh dân gian Việt Nam

Muốn làm ra giấy thì phải có chất liệu làm giấy. Vì vậy, trước tiên chúng ta cùng tìm hiểu về cây dó giấy - nguyên liệu sản xuất ra loại giấy dân gian này.

Hoa dó giấy
(Chữ trong hình viết sai chính tả)

Sau đây là thông tin về loài cây này, được trích trong Sách đỏ Việt Nam, trang 235:

Tên Việt Nam: Dó giấy
Tên Latin: Rhamnoneuron balansae (Drake) Gilg, 1894
Họ: Trầm Thymelaeaceae
Bộ: Trầm Thymelaeales
Nhóm: Cây gỗ lớn

Mô tả:

Cây gỗ nhỏ, cao 8 - 12m, với đường kính thân ít khi đến 0,2m. Cành non phủ đầy lông. Lá mọc cách; phiến hình trứng - thuôn, dài 10 - 20cm, rộng 3 - 3,5cm, tròn, đôi khi không đối xứng ở gốc, thót nhọn ở đầu, mỏng, nhẵn ở mặt trên có lông ngắn và nằm ở mặt dưới, có 20 - 25 đôi gân, bậc hai gần như song song; cuống lá dài 3 - 4mm, có lông và có cánh. Cụm hoa ở đầu có nhiều lá chùy thưa dàii hơn lá, có lông.

Cụm hoa đơn vị là tán, gồm 4 hoa không cuống, khi non được bao bởi hai lá bắc tổng bao dài 6 - 7mm, có lông len. Hoa màu trắng, lưỡng tính, thơm. ống đài dài 1cm, hơi loe ở giữa, phủ đầy lông ở ngoài, nhẵn, ở trong mang 4 lá đài trên đầu. Lá đài hình trứng, to nhỏ không bằng nhau, dài 2mm, có lông ở mặt ngoài. Nhị 8, xếp thành hai vòng không dài bằng nhau.

Đĩa tuyến mật cao 1,5 - 2mm, hình chén mỏng, mép lượn sóng. Bầu hơi có cuống, phủ đầy lông; vòi ngắn; núm to, gần hình bán cầu. Quả khô không tự nở, hình trứng, dài 7mm; vỏ quả ngoài mỏng, phủ đầy lông màu vàng nhạt. Hạt hình thoi, dài 6mm, rộng 1,7mm.

Sinh học:

Mùa hoa tháng 11 - 6, mùa quả chín tháng 3 - 10. Cây sinh bằng hạt.

Nơi sống và sinh thái:

Thường mọc ở ven suối ẩm, nơi có ít ánh sáng, ngoài cửa rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm, ở độ cao không quá 1200m.

Phân bố:

Việt Nam: Lai Châu (Phong Thổ: San Tan Ngai), Yên Bái (Trấn Yên: Trái Hút), Vĩnh Phú (Phú Thọ: Phụ Hội), Lạng Sơn (Bắc Sơn), Hà Tây (Ba Vì), Hòa Bình (Đà Bắc: Núi Biện), Quảng Ninh (Quảng Hà : Hà Cối, Tiên Yên), Nam Hà (Ban Phet), Quảng Nam - Đà Nẵng (Trà My), có trồng ở vài nơi.

Thế giới: Trung Quốc.

Giá trị:

Nguồn gen độc đáo. Loài duy nhất của chi Rhamnoneuron đặc hữu Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Vỏ thân có nhiều sợi dai, dùng làm giấy tốt.

Tình trạng:

Sẽ nguy cấp. Mặc dù loài phân bố khá rộng nhưng có số lượng cá thể không nhiều và sắp bị đe dọa tuyệt chủng vì môi trường sống bị phá hủy. Mức độ đe doạ: Bậc V.

Như vậy là loài cây dó giấy này nằm trong danh mục những cây có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam. Nếu chúng ta không bảo vệ nó, có lẽ sẽ chẳng còn tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống cho mọi người xem nữa đâu!

Giấy dó

Người ta lấy vỏ cây dó giấy để sản xuất giấy dó. Giấy dó được dùng để in trực tiếp các dòng tranh dân gian như Hàng Trống (Hà Nội), Kim Hoàng (Hà Tây), Nam Hoàng (Nghệ An), làng Sình (Huế) và để làm giấy điệp (quết bột điệp lên giấy dó) để in tranh Đông Hồ (Bắc Ninh). Bên cạnh đó, giấy dó còn là loại giấy dùng để viết thư tín, in sách, viết các sắc phong thời cổ bởi tính dai và bền có thể bảo quản lâu của nó.

Sản xuất giấy dó (Nguồn: wikipedia)

Nghiên cứu tại các cơ sở sản xuất giấy dó ở Việt Nam cho thấy, về cơ bản, giấy dó sản xuất thủ công, không có tác động hoá chất tạo axít trong giấy. Vỏ cây dó được nấu và ngâm trong nước vôi với thời gian ba tháng, bóc bỏ lần vỏ đen đi, giã bằng cối và chày rồi dùng chất nhầy từ cây mò tạo hỗn hợp kết dính. Khi xeo giấy, người thợ dùng liềm xeo (khuôn có mành trúc hay dây đồng ken dày) chao đi chao lại trong bể bột dó. Lớp bột dó trên liềm chính là tờ giấy dó sau khi kết thúc công đoạn ép, phơi, nén hay cán phẳng. Xơ dó kết lại với nhau, như cái mạng nhện nhiều lớp, tạo nên tờ giấy dó. Sự kết mạng như vậy đã làm cho tờ giấy xốp. Vì xốp nên giấy rất nhẹ. Sau cùng là phơi hoặc sấy.

Các công cụ sản xuất hầu như bằng tre, gỗ và dùng ánh sáng tự nhiên để làm khô giấy. Giấy dó được sản xuất theo quy trình này không có độ axít dẫn đến tuổi thọ cao. Một số tài liệu cho rằng giấy dó có độ tuổi thọ tới 500 năm.

Đặc tính lý hóa của giấy dó (Nguồn: wikipedia)

* Giấy dó có đặc tính xốp nhẹ, bền dai, không nhoè khi viết vẽ, ít bị mối mọt, hoặc dòn gẫy, ẩm nát.

Giấy dó xốp, nhẹ do nguyên liệu, cách chế biến, xử lý nguyên liệu và công nghệ sản xuất giấy dó quy định. Giấy dó có cấu trúc dạng sợi, các xơ sợi li ti cố kết với nhau tựa mạng nhện, nhiều lớp, không theo thứ tự sợi ngang, dọc như tấm lụa dệt, mà theo dạng chuyển động brown, đa chiều. Giấy dó có trọng lượng riêng bằng khoảng một nửa các loại giấy sản xuất công nghiệp.

Giấy dó Yên Thái đã được xuất khẩu sang nhiều quốc gia trên thế giới và được bạn hàng ưa chuộng. Các hoạ sĩ người Pháp đã sử dụng giấy dó Yên Thái (khổ lớn) để vẽ tranh bằng mực tầu theo phương pháp tranh cổ điển phương Đông. Một vài bảo tàng ở châu Âu cũng đã dùng giấy dó để lót bồi phía sau tranh vẽ. Với đặc tính chống ẩm rất cao, giấy dó giúp cho các tác phẩm nghệ thuật không bị ẩm mốc.

* Độ bền:

Tại các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, trong số những tài liệu giấy, thì tài liệu giấy dó có tuổi thọ cao nhất. Các tài liệu giấy dó là những loại tài liệu được sản sinh lâu đời nhất, từ khi các phương tiện bảo quản chưa được phát triển.

* Bắt màu, hút ẩm và thoát ẩm: Vì xốp nên giấy dó rất dễ bắt màu khi viết, in

* Cách nhiệt, cách âm, thẩm âm, cháy kiệt: Cũng vì xốp nên giấy dó cách nhiệt, cách âm tốt, do có cấu trúc dạng sợi đa chiều

Tiếng nện chày giã giấy dó đã đi vào ca dao:
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây H

Các loại giấy dó

Giấy dó sản xuất tại làng An Cốc (Hà Tây) có 7 loại:
- Giấy phương
- Giấy trúc
- Giấy khay
- Giấy để tạo giấy sắc
- Giấy vua phê
- Giấy hành ri
- Giấy dó bìa

Tại Hà Nội:
- Giấy sắc (Nghĩa Đô)
- Giấy moi, giấy phèn làm từ nguyên liệu thô hơn, có mặt giấy khô ráp, sử dụng để gói hàng (Triều Khúc, Yên Thái)
- Giấy xề: làm từ các đầu mẩu vỏ dó bị loại bỏ (làng Kẻ Cót hay làng Cót)

Ứng dụng

- In sách: ngày xưa người Việt in bằng công nghệ in giấy bản trên ván gỗ. Ngày nay, nhà thơ Nguyễn Duy sử dụng máy in phun để in trên giấy dó
- Ghi chép: thích hợp với sử dụng bút lông
- Vẽ tranh dân gian
- Đồ chơi Trung Thu
- Vàng mã
- Làm quạt
- Bao bì
- Giấy chống ẩm
- Sản xuất tấm cách âm, cách nhiệt, làm màng loa máy thu thanh

Giấy điệp - loại giấy đặc trưng cho tranh Đông Hồ

Trong khi các dòng tranh dân gian khác được in/vẽ trên giấy dó thì chỉ có duy nhất tranh Đông Hồ được in trên giấy điệp.

Giấy điệp được làm từ giấy dó. Trong quy trình sản xuất loại giấy này, người ta nghiền nát vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, vỏ có nhiều vân óng ánh bạc rồi trộn bột đã nghiền với hồ (bột gạo nếp đã được nấu) rồi dùng chổi lá cây thông quét lên mặt giấy dó. Chổi lá thông tạo nên những ganh chạy theo đường quét và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng, có ánh lấp lánh những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng, có thể pha thêm màu khác vào hồ trong quá trình làm giấy điệp.

Trước khi in tranh, người dân làng Đông Hồ phải mua giấy dó từ các làng nghề làm giấy dó (bên trên) rồi về cắt nhỏ thành từng khổ rồi quết điệp lên. Khi quết điệp lên thì giấy trở nên rất sáng bóng, lấp lánh dưới ánh sáng. Bởi vậy, nhà thơ Hoàng Cầm đã viết về loại giấy này như sau: "Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp" - viết quả không sai.
Trần Văn Bình tổng hợp
đọc tiếp...

Không gian văn hóa của tranh Đông Hồ, hay là hai cuộc hành trình văn hóa đến làng tranh

Cuộc hành trình thứ nhất

Làng Đông Hồ nằm trong không gian văn hoá cổ xưa của huyện Thuận Thành, 3 huyện bờ nam sông Đuống và rộng hơn là không gian văn hoá xứ Kinh Bắc. Tôi đã từng thực hiện những cuộc hành trình “xuyên Bắc Ninh” như thế này. Mời bạn đi cùng tôi!

Điểm khởi hành là điểm cực Nam của tỉnh tức quê hương tôi: làng Sen (xã Lâm Thao, huyện Lương Tài) với đình làng – di tích lịch sử - nghệ thuật cấp quốc gia được xây từ thời Lê, chùa Sùng Quang cạnh sông Sen (một nhánh của sông Đuống), khu văn chỉ thờ 44 vị đỗ đạt trong làng – minh chứng của một làng khoa bảng. Ngoài ra, ở xã Lâm Thao làng nào cũng có đình, chùa cổ và các lễ hội làng liên quan đến lịch sử thành lập quê hương như lễ hội vua Mít (thành hoàng của thôn Thái Trì), lễ hội chung của 3 thôn Ngọc Khám, Kim Thao, Lâm Thao với sự tích 3 ông thành hoàng của 3 làng này cùng đến đây lập làng xóm đã kết nghĩa anh em; hội làng Sen với đêm thơ đất Ngọc, hát quan họ trên hồ… Từ làng Sen, đi theo quốc lộ 38 qua một đoạn của huyện Cẩm Giàng - Hải Dương sẽ đến huyện Thuận Thành với phố Vàng, phố Chờ; khi đến ngã tư Đông Côi thì rẽ trái vào quốc lộ 182, trên đường đi sẽ gặp đền thờ Sĩ Nhiếp - Nam Giao Học Tổ - ông tổ của sự học đất Nam. Đi tiếp sẽ đến chùa Dâu - ngôi chùa cổ nhất Việt Nam ở thị trấn Dâu, xã Thanh Khương. Chùa Dâu là một di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng. Bạn không chỉ được thăm một cảnh quan kiến trúc đồ sộ mà còn được chiêm ngưỡng 101 pho tượng khác nhau với những pho tượng quý được tạc từ thế kỷ 13 cùng nhiều di vật kiến trúc cổ khác. Rời chùa Dâu, đi tiếp theo một đường đất, qua 2 ngôi chùa cổ kính khác1, khoảng 3 km nữa sẽ đến chùa Bút Tháp ở thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ. Chùa nằm ngay sát chân đê, chung quanh là cánh đồng, con đường vào có nhiều cây nên có phần yên bình, thoáng đãng hơn chùa Dâu (ở phố Dâu, chung quanh là dân cư, gần chợ Dâu). Chùa Bút Tháp có cổng vào rất cổ và lớn, không gian bên trong rộng rãi, bố trí các toà nhà, cây cối rất quy củ. Đặc biệt, ở đây có tháp Bút bằng đá, hình trụ, trên đá còn gần như nguyên những chữ Hán. Cây bút đá khổng lồ ấy vẫn ngày ngày chăm chỉ viết lên bầu trời xanh những dòng bút tinh khôi, óng mượt của cả một miền quê văn hiến.

Đình làng - di tích lịch sử cấp quốc gia ở làng Sen (thôn Ngọc Quan), xã Lâm Thao, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh - quê hương của Tiến sĩ Vũ Miên và nhà văn hóa Vũ Trinh.
(Ảnh: tranbinhkb)


Lăng Sĩ Nhiếp - Nam Giao Học Tổ (ông tổ sự học đất Nam Giao) ở thôn Tam Á, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
(Ảnh: tranbinhkb)


Chùa Dâu - phố Dâu, xã Thanh Khương, huyện Thuận  Thành, tỉnh Bắc Ninh
(Ảnh: tranbinhkb)


Chùa Bút Tháp - thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
(Ảnh: tranbinhkb)

Đường vào lăng Kinh Dương Vương - huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
(Ảnh: tranbinhkb)
Chùa Bút Tháp nằm ngay sát chân đê sông Đuống. Rời khỏi đây là ta cứ thênh thang trên đường đê rộng thoáng trực chỉ hướng làng Hồ mà đi. Khoảng 7 km nữa mới đến được nơi cần đến. Ai đã từng đi xe đạp thong dong trên đê sông Đuống thì có lẽ mới có thể cảm nhận được cái thế “nằm nghiêng nghiêng” của con sông chở nặng phù sa. Đê cao, triền đê rộng và xanh mướt cỏ xuân. Bên ngoài đê là những ruộng trồng màu và những con trâu, bò thảnh thơi gặm cỏ. Bên trong đê là những xóm làng quần cư lâu đời, nhà cửa san sát, những bụi tre đứng cạnh nhau như xây thành xây luỹ bảo vệ làng xóm và cánh đồng rộng rãi, bằng phẳng. Đi trên đê, ta sẽ đi qua một làng xóm mà bên trong có đền thờ Kinh Dương Vương - thủy tổ của Hồng Bàng thị rồi lại một khu lăng ở ngoài đê cũng thờ ngài. Tôi tự hỏi: Họ  xây lăng ở ngoài đê thế này không sợ nước ngập sao? Có lẽ là do chỗ đất đó nước chẳng ngập đến được, bởi gọi là ngoài đê thôi chứ đứng trên đê cũng chẳng nhìn thấy được nước sông! Đi tiếp lại gặp đền thờ Tây Vương Tướng quân cũng ở ngoài đê và một điện thờ mẫu ở trong đê. Đó mới chỉ là đi thẳng trên đê thôi, nếu đi vào trong những làng xóm thì còn gặp biết bao nhiêu đình, chùa, đền, miếu nữa, và biết bao nhiêu câu chuyện nữa mình chưa biết được? Thế mới hay ở cái đất Bắc Ninh tuy bé nhỏ nhất nước này mà cái kho tàng văn hoá cổ truyền lại chẳng nhỏ chút nào! Có lẽ cả một đời người vẫn chưa thể nào tìm hiểu hết được…

Hoàng hôn trên sông Đuống
(Ảnh: Đặng Lam Điền, nguồn: vnkrol.com)

Phía ngoài đê sông Đuống nhìn từ bờ nam
(Ảnh: Đặng Lam Điền, nguồn: vnkrol.com)
Đi vòng vèo một hồi rồi cũng đến làng Đông Hồ. Ngay ở trên đê đã thấy tấm biển ximăng màu đỏ đề chữ vàng rõ lớn: “Tranh Đông Hồ”.

Con đê đầu làng Đông Hồ.
(Ảnh: HG, Nguồn: honviet.vitinfo.com.vn)

Cuộc hành trình thứ hai

Cuộc hành trình thứ hai cũng bắt đầu từ làng Sen, qua tất cả các thôn khác của xã Lâm Thao rồi đến xã Bình Định. Hai xã này đã đi vào truyền thuyết dân gian rằng khi Thánh Gióng đi đánh giặc Ân, vết chân ngựa của chàng đã dẫm qua vùng này mà để lại khá nhiều ao, chuôm, đầm, hồ vẫn còn đến tận bây giờ. Ở xã Bình Định nổi tiếng nhất là đình thôn Ngọc Trì rất lớn, cổ và cũng giống đình Ngọc Quan – cũng nằm ở giữa làng, cũng có hồ nước ở phía trước. Cái này các cụ vẫn gọi là thuật phong thuỷ, làm vậy để cho luồng khí được hanh thông, luồng khí ở đình được hanh thông thì cả làng mới được cái phước của trời đất mà an cư lạc nghiệp, yên ổn nhiều đời… Qua Bình Đình thì rẽ vào Phú Lương – quê hương của Nguyễn Thuyên - một trong những người sáng tác thơ văn bằng chữ Nôm đầu tiên, người mà tương truyền đã viết hịch lệnh cho cá sấu đang lên bờ phá hoại mùa màng, giết chóc dân chúng phải rút xuống nước. Bởi lẽ vậy nên ông đã được vua đổi cho qua họ Hàn – ý so sánh với Hàn Tín bên Tàu thành ra Hàn Thuyên. Phú Lương là một xã hiếu học, có dòng họ Vũ nhiều người đỗ đạt như Tiến sĩ Vũ Cẩn…Qua Thị trấn Thứa - huyện lị của huyện Lương Tài thì đi lên thị trấn Đông Bình - huyện lị của Đông Bình.

Nhắc đến huyện Đông Bình thì ta không thể quên được xã Đại Bái với nghề đúc đồng lâu đời. Dân Đại Bái (trong đó có làng Bưởi) đi tứ xứ để đúc nồi, xoong cho thiên hạ, ra cả chốn Kẻ Chợ (Hà Nội) lập ra làng Bưởi làm tiếp nghề cha ông để rồi sau này cái tên Bưởi đã đi vào tên ngôi trường sản sinh ra biết bao thế hệ chiến sĩ cách mạng. Ở Đại Bái có một điều đặc biệt là những hoành phi, câu đối trong đình của họ không làm bằng gỗ rồi sơn son thếp vàng lên mà làm bằng đồng thau. Những tấm đồng lớn treo trên cao như vậy như những tấm phản quang hắt ra một màu vàng có thể khiến người ta mỏi mắt mỗi khi thắp điện. Dân Đại Bái đi tứ xứ rồi ngày Tết, ngày hội, ai mà chẳng cố mà về cúi đầu cảm tạ trong đình… Một điều đặc biệt nữa là ở Đại Bái mới xuất hiện các bức tranh Đông Hồ được “vẽ” trên chất liệu đồng! Ý tưởng độc đáo này là của nghệ nhân Nguyễn Văn Điền, được thực hiện trong nguy cơ mai một nghề đúc đồng truyền thống. Được sự giúp đỡ của các nghệ nhân làng Đông Hồ, tranh Đông Hồ đã “sống” được trên chất liệu kim loại này. Bằng ý tưởng này, ông Điền đã góp phần không nhỏ vào việc khôi phục lại nghề truyền thống của Đại Bái.


Tranh Đông Hồ trên chất liệu đồng sản xuất ở Đại Bái - Gia Bình
(Nguồn: VietNamNet)

Ở Đông Bình còn có làng nghề tre Xuân Lai ở xã Xuân Lai. Làng này vốn xưa quen làm ghế tre, chõng tre và các vật dụng bằng tre khác. Rồi thì khoa học kĩ thuật phát triển, chẳng mấy ai ưa dùng đồ tre mau hỏng, rẻ tiền, dân dã nữa. Đang lúc làng tre lay lắt thì đã có người nảy ra ý tưởng vẽ tranh Đông Hồ lên tre. Vậy là những Đàn lợn âm dương, Đàn gà, Đám cưới chuột, Tố nữ… của làng tranh Đông Hồ lại được sống cuộc sống thứ hai trên chất liệu tre mới mẻ này. Mang đậm chất truyền thống mà lại hợp thời nên tranh Đông Hồ trên tre Xuân Lai đã rất phát triển và được xuất khẩu rất nhiều.


Tranh Đông Hồ trên tre của làng nghề Xuân Lai
(Ảnh: tranbinkb)

Vẫn ở Đông Bình, ta còn đi ngang qua một ngọn núi thấp mà trên đỉnh có đền thờ vị tiến sĩ đầu tiên của nước nhà – Lê Văn Thịnh. Tiếc rằng đường đi khó nên tôi chưa có dịp lên tận nơi để tưởng nhớ một hiền nhân đã chết oan. Ngày xưa, cụ Nguyễn Du viết “Chữ tài đi với chữ tai một vần” là vậy.

Khi đã qua đền thờ Lê Văn Thịnh rồi thì cứ đi thẳng rồi lên đê sông Đuống, thẳng tiến hướng làng Đông Hồ. Từ làng Đông Hồ lại đi lên đê khoảng 3 km nữa ra đến cầu Hồ (trước kia là phà Hồ) để qua Tiên Du, Tiên Sơn rồi lên thành phố Bắc Ninh. Có lẽ nên dừng lại ở 3 huyện “Bên kia sông Đuống” (tức 3 huyện bờ nam) thôi, nếu không lại phải kể đến biết bao nhiêu nơi nữa mà nơi nào cũng đi vào hồn dân tộc như thị trấn Lim với hội hát quan họ của các nghệ nhân già, chùa Phật Tích cổ xưa, chùa Hàm Long linh thiêng trên đồi cao bề thế; xã Đình Bảng quê hương của các Lí vương với Đền Đô mà mỗi năm vào dịp thờ đều có 8 dải mây trắng ở ngay trên đầu, với cái đình cổ xưa, với cặp bánh su sê (phu thê) mỗi lần cưới hỏi ở xứ Bắc đều không quên có; thôn Viêm Xá (huyện Yên Phong, nay thuộc thành phố Bắc Ninh) - gốc của lối hát quan họ và cũng là nơi có đền Cùng (hay đền Giếng) thờ mẫu với tương truyền ở giếng nước trong của đền có đôi cá chép sống hàng trăm năm, dù nước ngập vẫn không bơi đi nơi khác, nơi cầu đảo mong mùa màng thuận lợi, đánh giặc thành công của các vua Lí, Trần xưa, nơi mà người ta vẫn nói rằng: “Dù ai đi lễ bốn phương, Không bằng linh hiểu thắp hương đền Cùng”. Cũng như đền Cùng, đền Bà Chúa Kho (thành phố Bắc Ninh) cũng thờ mẫu, là nơi mà hàng năm vào dịp lễ hội, dân chúng khắp nơi đổ về cầu xin tiền bạc từ Đức Mẫu nhân từ… Và còn biết bao nhiêu làng xóm, đình chùa, lễ hội… chúng ta chưa từng đi qua?

Tôi phải “lan man” về Bắc Ninh - nhất là các huyện bờ năm sông Đuống như vậy mà không đi mô tả làng Đông Hồ luôn là cũng có cái lí riêng của tôi. Các ngành khoa học xã hội – nhân văn mà đặc biệt là ngành Nhân học từ trước đến nay vẫn luôn coi trọng không gian, bối cảnh khi xem xét đời sống văn hoá một vùng đất nào đó. Để có thể định hình và phát triển một giá trị văn hoá vào đó thì không phải đơn giản chỉ cần chất liệu từ chính nơi nó sinh ra mà cần phải có một không gian văn hoá mà ở đó luôn có sự giao lưu, học hỏi và ảnh hưởng lẫn nhau. Các huyện bờ nam luôn có mối liên hệ liên tục, thường xuyên, gần gũi với nhau hơn với các huyện phía bắc bởi sự ngăn cách của sông Đuống. Ngày xưa sông Đuống không hẹp như bây giờ nên việc bờ này qua bờ kia là một khó khăn với nhân dân - vốn ít đi ra ngoài mà yên ổn làm ăn ở trong làng xóm. Các huyện bờ nam sông Đuống là những huyện đồng bằng (riêng huyện Gia Bình có một ít đồn núi thấp), địa bằng phẳng, trước kia còn nhiều vùng đất ngập nước nên hoạt động nông nghiệp (trồng lúa nước) chỉ tiến hành được một mùa. Vào mùa nước lớn, nếu có lũ lụt thì các huyện phía nam bị chứ hiếm khi các huyện bờ bắc bị vì các huyện này cao hơn, có nhiều đồi núi hơn. Ba huyện bờ nam sông Đuống nói riêng và cả Bắc Ninh và Bắc Bộ nói chung đều là nơi sản xuất nông nghiệp - mà đặc biệt là lúa nước lâu đời, đời sống sản xuất và sinh hoạt phụ thuộc nhiều và thiên nhiên. Môi trường sống này đã định hình nên một nền văn hoá nông nghiệp lúa  nước lâu đời và điển hình. Tranh dân gian Đông Hồ đã tồn tại và phát triển trong điều kiện tự nhiên, không gian văn hoá như vậy.

Trần Văn Bình
đọc tiếp...

02/08/2011

Kỹ thuật làm tranh Đông Hồ

Ngoài các đặc điểm về đường nét và bố cục, nét dân gian cũng như đặc trưng của tranh Đông Hồ còn nằm ở chất liệu làm tranh. Giấy in tranh Đông Hồ là giấy dó – được làm bằng vỏ cây dó ở trên rừng, theo wikipedia thì giấy dó có đặc tính xốp nhẹ, bền dai, không nhoè khi viết vẽ, ít bị mối mọt, hoặc giòn gẫy, ẩm nát.

1. Chất liệu làm tranh

Trong bài thơ Bên kia Sông Đuống Hoàng Cầm viết:

Tranh Đông Hồ, gà lợn nét tươi trong,
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Ngoài các đặc điểm về đường nét và bố cục, nét dân gian cũng như đặc trưng của tranh Đông Hồ còn nằm ở chất liệu làm tranh. Giấy in tranh Đông Hồ là giấy dó – được làm bằng vỏ cây dó ở trên rừng, theo wikipedia thì giấy dó có đặc tính xốp nhẹ, bền dai, không nhoè khi viết vẽ, ít bị mối mọt, hoặc giòn gẫy, ẩm nát. Với đặc tính chống ẩm, giấy dó giúp cho các tác phẩm nghệ thuật không bị ẩm mốc và có tuổi thọ tương đối cao. Theo nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế cho hay thì cây dó này chỉ có ở 3 tỉnh Quảng Ninh, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Giấy dó mang về với bản lớn nguyên sẽ được cắt thành nhiều cỡ, nhỏ nhất là 11x 2cm, lớn nhất là 22x31cm. Sau đó, người ta nghiền nát vỏ con điệp (một loại sò vỏ mỏng ở biển) đem trộn với hồ (hồ được nấu từ bột gạo tẻ, hoặc gạo nếp, có khi nấu bằng bột sắn - hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn, hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán) rồi dùng chổi lá thông quét điệplên mặt giấy dó. Chổi lá thông tạo nên những đường rãnh li ti chạy theo đường quét khiến cho mặt giấy có những đường gân lồi lõm nên khi sờ lên có cảm giác thô ráp như sờ trên mặt vải thổ cẩm. Hiệu ứng thứ đến là do cấu tạo thô ráp, tranh Đông Hồ gần gũi với nét dân dã hơn do đó lột tả được chủ đề mà dòng tranh này thường khai thác. Vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng với ánh lấp lánh những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng. Khi làm giấy, có thể pha thêm màu khác vào hồ để tạo thành màu nền. Giấy dó có quết điệp nên người ta thường gọi là “giấy điệp”.

Làng nghề Đông Hồ từ xa xưa đã có những liên kết công việc với nhiều làng quê khác. Họ đến với các làng vùng cửa sông Thái Bình, làng biển Quảng Ninh để mua vỏ trai, vỏ sò về nghiền vụn làm chất óng ánh sắc điệp nền tranh; đến với làng Đông Cảo, làng Phong Khê (Bắc Ninh) để có được thứ giấy dó seo với kĩ thuật đặc biệt; và làng Bưởi, làng Yên Thái (Hà Nội) để lấy loại giấy dó có khổ dài dùng in các bộ tranh tứ bình. Những rơm nếp, giành giành, lá chè, hoa hoè… Đông Hồ mua chuyên của một số làng lân cận, làm nguyên liệu chế màu.

Màu sắc được sử dụng trong tranh Đông Hồ là màu tự nhiên: màu đen lấy từ than gỗ xoan, rơm nếp hay than lá tre được ngâm kĩ trong chum vại vài tháng rồi mới sử dụng được; màu xanh lấy từ gỉ đồng hay lá chàm – lá ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc, họ thường dùng để nhuộm quần áo; màu vàng lấy từ hoa giành giành, hoa hòe – loài hoa về mùa hè người ta vẫn dùng để sắc nước uống thanh nhiệt; màu đỏ lấy từ gỗ vang và sỏi son trên núi Thiên Thai; màu trắng lấy từ điệp v.v. Những chất màu thô này được trộn với nhau và hoà với một lượng bột nếp trước khi in để tạo một lớp hồ, làm cho giấy tranh cứng hơn sau khi phơi khô.

Làm màu là một công đoạn khó, phải trải qua các khâu chế màu, đồ màu, hãm màu rất công phu, đòi hỏi phải có tay nghề cao mới có thể làm ra loại màu tươi tắn, tự nhiên. Bởi vậy, ngày xưa, có bao nhiêu dòng họ thì có bấy nhiêu cách pha chế màu, nó đã trở thành bí kíp của riêng từng người, bởi vậy không hề truyền ra ngoài mà chỉ truyền cho con cháu. Vậy nên, những ai sành chơi tranh khi nhìn màu sắc của tranh cũng đoán được ra đó là tranh của nhà nào.

Sau khi in thành tranh, kể cả lúc tranh khô, người xem vẫn cảm nhận được màu sắc của tranh thật tươi tắn như lúc tranh ướt. Các hình khối, mảng nọ đặt cạnh mảng kia có sự ăn ý hài hoà một cách tự nhiên.

Trên giấy điệp, khi hớn hở, khi thanh thản, những màu nguyên đó rung lên theo ánh sáng. Màu vàng hòe tượng trưng cho sự no đủ, màu vàng rộm lên như cánh đồng lúa chín, màu xanh như lũy tre, màu đỏ gấc như yếm thắm, màu nhiễu tím như thắt lưng, màu đen như váy lĩnh giữa mùa quan họ. Tất cả đều là vật liệu có sẵn trong thiên nhiên mà cuộc đời chúng ăn sâu vào tâm thức người Việt từ thuở xa nào. Bởi vậy, mỗi khi được cầm một bức tranh Đông Hồ trên tay, bao kỉ niệm ấu thơ, tình yêu làng xóm, quê hương, nỗi khát khao quay trở lại cội nguồn dân tộc lại sống dậy trong lòng biết bao người con Việt xa xứ.

Nghe nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế nói về chất liệu làm tranh:
Phỏng vấn nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế

2. Cách in tranh



Nghệ nhân làng Đông Hồ đang in tranh
(Nguồn: cinet.vn)


Hoạt động in tranh tại nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế
(Ảnh: Trần Thanh)


Bộ sưu tập các bản khắc cổ có độ tuổi trên dưới 200 của nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế
(Nguồn: Báo Thanh Niên)


Các bản khắc gỗ ở nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế
(Ảnh: Trần Thanh)


Mỗi bản khắc là một màu
(Các bản khắc của tranh Đám cưới chuột - Nguồn: cinet.vn)

Tranh Đông Hồ không phải là tranh vẽ tay mà được in hoàn toàn bằng tay với các bản màu, mỗi màu dùng một bản. Khi in, dập bản màu nhạt trước, màu đậm sau. Độ lệch các bản màu càng ít thì chất lượng tranh càng cao. In màu xong, cuối cùng mới in bản nét với đầy đủ các nét trong tranh (màu đen). Bản nét có nét to đậm, mềm mại bao quanh lấy những mảng màu to bẹt, đồng bộ, tạo thành một đường viền làm ổn định hình trên tranh. Tranh được in bằng cách bôi màu vào bản khắc gỗ, mỗi màu một bản sau đó ấn khuôn lên giấy. Khâu cuối cùng là chấm sửa bức tranh, gọi là đồ tranh.


Các nghệ nhân đang đục bản in tranh
(Ảnh: internet)

Màu sắc trong tranh Đông Hồ có 5 màu chủ đạo, vì vậy, thông thường để in một tranh cần phải có 5 bản khắc, in trong 5 lần. Các bản khắc này được làm từ gỗ mít – loại gỗ trắng, có độ bền và độ dẻo cao nên rất thích hợp cho các đường đục nhỏ. Và tất nhiên, vì mỗi kiểu tranh đều mang tính cá thể từng gia đình làm tranh một nên phần lớn các bản khắc gỗ này đều được tự gia đình đó khắc để tự in tranh. Để những bản khắc này đạt đến trình độ tinh xảo thì cần phải có người vẽ mẫu trước. Những người vẽ mẫu và khắc bản in đòi hỏi phải là những người có lòng yêu nghệ thuật, có tâm hồn nghệ sĩ, đức tính tỉ mỉ và phải có kinh nghiệm, tay nghề rất cao. Sau khi đã có bản khắc rồi thì công đoạn in tranh không khó khăn lắm. Nhờ cách in dùng nhiều bản khắc này, tranh Đông Hồ được in với số lượng lớn và không đòi hỏi kĩ năng cầu kì nhiều. Tuy nhiên vì in trên ván gỗ một cách thủ công, nên tranh bị hạn chế về mặt kích thước, thông thường là 22x31cm.


Phơi tranh
(Nguồn: Báo Thanh Niên)

Nói thì đơn giản là vậy, xong khi đi sâu vào tìm hiểu nghề in tranh thì mới thấy để làm được một bức tranh thì công đoạn in cũng tốn lắm công sức và thời gian. Ví dụ, khi in một bức tranh cần đến 5 bản khắc thì trước tiên, họ in bản khắc thứ nhất lên hàng loạt giấy, sau đó đem những bức tranh chưa thành hình thù đó trải ra sân phơi nắng cho khô màu. Sân chật quá thì đen ra đình, ra triền đê mà phơi. Nghề làm tranh sợ nhất là mưa, sợ nhì là gió. Bởi vậy, khi phơi tranh phải luôn có người canh chừng. Tưởng tượng mà xem, những khi nào ta đi trên con đê sông Đuống khúc qua làng Hồ, nhìn từ trên xuống thấy triền đê toàn là tranh  đang lấp lánh ánh điệp và màu xanh đỏ dưới nắng, lúc đó mới cảm nhận hết được cái ý thơ “Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” của thi sĩ Hoàng Cầm. Cứ như vậy, các bản in sau cũng lại được in hàng loạt rồi lại đen ra phơi cho khô màu, đến bản in thứ 5 mới hoàn thiện. Các công đoạn này phải mấy chừng 2, 3 ngày, nếu phải ngày mưa thì còn lâu hơn.


Theo thời gian, qui trình in tranh Đông Hồ đã được phân công hợp lí cho từ trẻ em đến người già, để có thể làm mà như chơi (riêng những người sức vóc khỏe mạnh thì phải đảm nhiệm việc đồng áng). Trẻ em được giao làm các việc đánh màu, quét điệp, phơi tranh, có thể thì căn ke bản in. Người già thì đốt rơm, ủ lá chiết màu, cho đến việc phân bộ bản in, dùng bút chấm sửa các tranh in chưa kĩ... Những việc khó về kĩ thuật và có tính sáng tạo thì do người giỏi đảm đương, làm trong xưởng riêng để giữ bí quyết nhà nghề.



Trần Văn Bình
đọc tiếp...
 

Maudantoc.com trên Facebook
Theo đuôi Maudantoc.com trên Twitter
Maudantoc.com trên Yahoo! Pulse

free counters
Blog Màu dân tộc | Mua tranh Đông Hồ | Thỏa thuận sử dụng nội dung | Sơ đồ trang | Góc báo chí | Liên hệ

Bản quyền 2009 - 2011 Boong bảo lưu mọi quyền.