26/06/2011

Tiếp nhận Truyện Kiều bằng tiếng Ba Lan

Cuốn sách có khổ 13cm x 20cm, mỗi trang in hai mặt, xuất bản tại Warszawa năm 1975. Bìa là một bức tranh hứng dừa (tranh Đông Hồ của Việt Nam).

Bìa cuốn Truyện Kiều bằng tiếng Ba Lan

Ngày 23-6, Ban di tích đại thi hào Nguyễn Du đã tiếp nhận cuốn Truyện Kiều của dịch giả Ba Lan Roman Koloniecki, do ông Đặng Bá Lãm gửi từ Hà Nội qua đường bưu điện.

Được biết một lần vào thăm bảo tàng đại thi hào Nguyễn Du ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh), thấy nhiều cuốn Truyện Kiều với nhiều thứ tiếng Nga, Đức, Pháp, Mỹ, Anh... đang trưng bày, ông Đặng Bá Lãm nói với nữ hướng dẫn viên Nguyễn Thị Nguyệt (cháu đời thứ 15 dòng họ Nguyễn, đời thứ 8 của Nguyễn Du): "Tôi cũng có một cuốn Truyện Kiều nhưng bằng tiếng Ba Lan. Tôi sẽ tặng bảo tàng để giới thiệu với công chúng".

Cuốn sách có khổ 13cm x 20cm, mỗi trang in hai mặt, xuất bản tại Warszawa năm 1975. Bìa là một bức tranh hứng dừa (tranh Đông Hồ của Việt Nam). Cuốn sách do ông Lãm sưu tầm hồi làm nghiên cứu sinh tại Ba Lan.

Hiện ông Lãm công tác trong ngành giáo dục và là người quan tâm nghiên cứu Truyện Kiều.

Vũ Toàn, theo Tuổi Trẻ
đọc tiếp...

13/06/2011

Nhớ những ngày Nguyên Hồng sống ở Nhã Nam

Thường là trước Tết, Nguyên Hồng giục vợ con chuẩn bị nuôi một con lợn. Rồi ông tự tay đi chợ mua tranh Đông Hồ về trang trí, tô điểm trong căn nhà xóm Cầu Đen, sắm cả chiếc bình hoa bằng sứ để cắm cành đào, cành mận cùng cả nhà đón xuân. Nó cũng giống như nghi lễ mà ông sốt sắng cái ngày đón các nhà văn Nguyễn Tuân, Huy Cận, Kim Lân, Tô Hoài, Như Phong… từ Hà Nội lên thăm.


Có thể nói, suốt 23 năm kể từ năm 1959 đến lúc qua đời 1982, nhà văn Nguyên Hồng chủ yếu sống ở xóm Cầu Đen, xã Quang Tiến, Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Và suốt 23 năm ấy, Nguyên Hồng miệt mài cày ải trên cánh đồng chữ để gieo nên những bộ tiểu thuyết nổi tiếng. Đó là bộ tiểu thuyết "Cửa biển" 4 tập gồm 2.000 trang; là bộ tiểu thuyết "Núi rừng Yên Thế" gồm 2 tập...

Thế hệ chúng tôi, dường như không ai là không đọc những trang viết của nhà văn Nguyên Hồng. Nhiều tác phẩm, nhiều chương trích tiểu thuyết "Bỉ vỏ", "Những ngày thơ ấu", "Sóng gầm", "Một người mẹ Trung Quốc" của ông đã được đưa vào sách giáo khoa, lớp học trò chúng tôi ngày ấy cảm thụ, nghiền ngẫm về nội dung và nghệ thuật để làm bài thi đến mấy chục năm sau vẫn còn nhớ.

Sau này càng tìm hiểu về nhà văn Nguyên Hồng, tôi càng ngẫm ra nhiều điều đặc biệt về nhà văn, nhất là thời gian 23 năm ông sống và viết ở Nhã Nam, Bắc Giang, một nhân cách mà "Cho đến ngày cuối cùng của đời anh, như một người chiến sỹ ngót nửa thế kỷ nay không một phút ngừng nghỉ, anh đã ngã xuống trên trang giấy của trận đánh lớn nhất đời anh còn dang dở…" (Điếu văn do nhà văn Nguyên Ngọc, Phó Tổng Thư ký Hội nhà văn Việt Nam đọc trong lễ an táng nhà văn Nguyên Hồng tại xã Quang Tiến, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 4/5/1982).

Từ Đồi văn hóa đến xóm Cầu Đen

Hẳn không nhiều người biết, từ một trong những trụ cột chính sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, do bức bối trước cái ngột ngạt trong "không khí văn chương" sau vụ án "Nhân văn giai phẩm", năm 1959, nhà văn Nguyên Hồng quyết định đưa cả gia đình gồm một mẹ già, hai vợ chồng và 5 người con bỏ Hà Nội lên Bắc Giang sinh sống.

Nhiều người biết là Nguyên Hồng từng tham gia Hội văn hóa Cứu quốc bí mật từ năm 1943, từng tham gia Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám 1945 và trong 9 năm kháng chiến chống Pháp ông đã gắn bó với cuộc kháng chiến trường kỳ bằng những áng văn, bằng sự tất tả lo bài, lo tiền để in số báo Văn nghệ ra số đầu tiên, bằng việc mẫn cán phụ trách trường Văn nghệ nhân dân và cả những lần lăn xả cùng bộ đội đi chiến dịch…

Không ai nghi ngờ tấm lòng trong sáng của ông với Đảng, với chế độ mới vừa ra khỏi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Nhưng sẽ cắt nghĩa thế nào khi "bỗng dưng" nhà văn Nguyên Hồng bỏ Thủ đô kéo cả nhà rồng rắn lên vùng quê miền núi Bắc Giang sinh sống? Trong khi hẳn là ông đã biết trước được rằng, nơi Đồi văn hóa xưa mà ông trở về ấy có cái xóm Cầu Đen với bao khó khăn, đói khổ đang chờ vợ con ông? Vậy mà ông vẫn quyết chí, không dùng dằng nửa phút, dứt áo bạn văn mà đi. Và đã ngã xuống ngạo nghễ trên những trang văn dang dở, trở về với đất đai đúng nghĩa khi chân tay và quần áo vẫn lấm lem bùn đất sau những lần lên xuống suối gánh bùn dưới cơn nắng hè oi bức để vá bức tường bếp vừa bị sạt vì mưa.

Nhà văn Nguyên Hồng (thứ hai, bên phải) cùng mẹ (thứ tư, bên phải), vợ nhà văn (thứ năm, bên phải), con gái Nhã Nam (thứ ba, bên trái) và nhà văn Tiệp Khắc. (Ảnh chụp năm 1971 tại Nhã Nam)

Dường như một nhà văn viết “Bỉ vỏ” trong "tiếng muỗi và tiếng trẻ con khóc, trên một cái bàn kê bên khung cửa trông ra vũng nước đen ngầu bọt của một bãi đất lấp dở dang và một chuồng lợn ngập ngụa phân tro…" thì không khổ cực nào có thể khuất phục được ông. Đang yên lành ở Thủ đô, vợ nhà văn là bà Vũ Thị Mùi làm ở hiệu sách ngoại văn, "đùng một cái" tất cả theo lệnh Nguyên Hồng vượt cầu Long Biên hành quân lên Yên Thế.

Chả là hồi kháng chiến chống Pháp, gia đình Nguyên Hồng từng cùng gia đình các nhà văn Kim Lân, Ngô Tất Tố, họa sỹ Tạ Thúc Bình, Trần Văn Cẩn lên tản cư ở ấp Ký Nhàn thuộc Yên Thế, Bắc Giang, nơi sau này được gọi là Đồi văn hóa. Lúc trở lại nơi này, căn nhà xưa còn là mái tranh cũ với tường đất ẩm thấp, năm 1960, khi có nhuận bút của tiểu thuyết “Sóng gầm”, nhà văn mới có tiền sửa lại căn nhà. Ông thuê thợ về mua gỗ làm lại căn nhà thành 3 gian, lợp ngói tây làm nơi tiếp khách và viết văn (nay là xóm Cầu Đen, xã Quang Tiến, Tân Yên, Bắc Giang)… Ngôi nhà nằm trên một quả đồi mà theo lời nhà văn Kim Lân "những buổi chiều hè đứng gió, hơi nóng từ quả đồi sỏi đỏ lừ đừ bốc lên ngột ngạt, nặng trĩu. Trong gian nhà tối thấp, im phắc, Nguyên Hồng vẫn ngồi viết. Mặt anh đẫm mồ hôi…".

Theo lời chị Nguyễn Thị Nhã Nam, con gái thứ 5 của nhà văn Nguyên Hồng thì hồi mới lên xóm Cầu Đen, nhà chỉ còn duy nhất Nguyên Hồng là có sổ gạo, vì thế mà cả nhà vào hợp tác xã, đi làm lấy công điểm để được cấp thóc. Vậy là mấy anh em nhà chị phải học cấy, học cày, học nhổ cỏ, gặt lúa và xay thóc, chăn trâu, cắt cỏ như những trẻ em nông thôn thực thụ. Có ngày đi ra đồng làm việc, nhưng mấy chị em lại quên báo cho đội sản xuất nên người ta không biết mà chấm công. Cuối vụ, số thóc được chia giảm hẳn, biết thế, nhưng không dám thắc mắc; sau rồi bà con hàng xóm mách cho biết phải làm như thế nào…

Hồi ấy, tháng ba ngày tám là đói lắm. Để nuôi một đàn con đông đúc cùng mẹ đẻ nhà văn, người vợ chịu thương, chịu khó của Nguyên Hồng là bà Vũ Thị Mùi đã phải lặn lội nay chợ thị trấn Nhã Nam, mai tất tả xuống chợ Lữ Vân mua sắn tươi, mua khoai lang về nấu độn với cơm để đủ xới đầy bát cho từng người.

Nhiều bận kể chuyện về một thời chưa xa, chị Nhã Nam có lúc đã không cầm được nước mắt khi nhớ kỷ niệm về thầy, mẹ, lúc biết thương mẹ vô cùng thì đã muộn! Làm sao lại không thương khi mẹ chị, một người biết tiếng Pháp, một thời bán sách ngoại văn, nhưng đã nhanh chóng được "nông dân hóa" khi từng biết chôn sắn tươi xuống đất để sắn không "chảy nhựa", biết thái khoai lang để xào với một tí mỡ làm thức ăn. Đến bây giờ chị Nhã Nam vẫn còn nao nao nhớ cái cảm giác nóng ruột khi nhiều lúc phải ăn khoai trừ bữa. Vậy rồi cứ sống khổ lâu ngày tự nhiên cũng thành quen.

Có lẽ nhà văn Nguyên Hồng hơn ai hết đã thấu hiểu gia cảnh mình những năm đói dài ấy, vì thế mà cứ mỗi lần đạp xe xuống Thủ đô làm việc cùng Hội Nhà văn, bao giờ trở lại Bắc Giang thì trên chiếc xe cà tàng cũ kỹ của ông cũng chở lỉnh kỉnh nào gạo, nào dầu, nào thịt lợn tươi, cả cân đường, mét vải hay chiếc khăn, bánh xà phòng vuông vức. Đó là tiêu chuẩn phiếu B cán bộ của nhà văn tương đương tiêu chuẩn cấp Thứ trưởng mà Nhà nước đã cấp cho ông. Hẳn là nhà văn thấy hạnh phúc lắm khi ông được tự tay chăm sóc mẹ mình, được trao cho vợ và các con cái tiêu chuẩn tem phiếu vừa xếp hàng mua ở cửa hàng ưu tiên phố Tôn Đản. Niềm vui dẫu nhỏ bé nhưng đối với ông nó thiêng liêng như một nghi lễ! Nó cũng giống như cái nghi lễ mà ông đã tỉ mẩn sắm Tết cho cả nhà khi mỗi dịp cuối năm.

Thường là trước Tết, Nguyên Hồng giục vợ con chuẩn bị nuôi một con lợn. Rồi ông tự tay đi chợ mua tranh Đông Hồ về trang trí, tô điểm trong căn nhà xóm Cầu Đen, sắm cả chiếc bình hoa bằng sứ để cắm cành đào, cành mận cùng cả nhà đón xuân. Nó cũng giống như nghi lễ mà ông sốt sắng cái ngày đón các nhà văn Nguyễn Tuân, Huy Cận, Kim Lân, Tô Hoài, Như Phong… từ Hà Nội lên thăm.

Chị Nhã Nam kể, khách Hà Nội, khách Hội Nhà văn thường lên bất chợt, không báo trước. Các bác ấy cứ thấy nhớ nhau là lên... Mỗi dịp có khách thì ông báo trước cho gia đình để mẹ chị chuẩn bị thức ăn chu đáo. Có những lúc chắc thiếu tiền, nhà văn Nguyên Hồng phải sai "sứ giả" là con gái Nhã Nam cầm thư bố đạp xe gấp lên nhà bác T. ở thị trấn, cách nhà khoảng 4 cấy số để vay tiền.

Chuyện đó xảy ra cách đây hơn 40 năm, vậy mà hôm nay, trò chuyện cùng tôi, chị Nhã Nam nhiều lần lấy khăn lau nước mắt bởi còn nhớ như in cảnh bác T. đọc thư nhà văn, rồi ông vồi vội lấy 10 đồng đưa nhanh cho Nhã Nam giục mang về. Và bao giờ cũng thế, trước khi Nhã Nam ra khỏi nhà, bác T. cũng lấy diêm bật lửa đốt bức thư của nhà văn Nguyên Hồng.

Lúc ấy với tâm hồn con trẻ, Nhã Nam làm sao biết được bức thư bố mình viết cái gì, cũng không hiểu vì sao bác T. lại đốt. Phải chăng người bạn tri âm tốt bụng ấy đã đốt đi một khế ước, để giữ lại một niềm tin. Hoặc cũng có thể ông đã đốt đi bút tích của nhà văn như hóa đi bằng chứng vì không muốn người đời sau này biết được nhà văn Nguyên Hồng nổi tiếng của chúng ta có lúc lại nghèo đến thế!

Tất nhiên sau đó, lúc nào về Hà Nội lĩnh lương xong, bao giờ nhà văn Nguyên Hồng hoặc sai con hoặc tự mình đến nhà bác để hoàn nợ. Chị Nhã Nam kể, bố chị có thể vay tiền, nhưng chưa bao giờ chị thấy cụ mua chịu ai cái gì, kể cả cút rượu quê mà hàng xóm lúc nào cũng sẵn lòng đãi cụ!

Sau những dòng văn để đời

Có thể nói, suốt 23 năm kể từ năm 1959 đến lúc qua đời 1982, nhà văn Nguyên Hồng chủ yếu sống ở xóm Cầu Đen, xã Quang Tiến, Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Và suốt 23 năm ấy, Nguyên Hồng miệt mài cày ải trên cánh đồng chữ để gieo nên những bộ tiểu thuyết nổi tiếng. Đó là bộ tiểu thuyết "Cửa biển" 4 tập gồm 2.000 trang; là bộ tiểu thuyết "Núi rừng Yên Thế" gồm 2 tập. Đây là hai bộ tiểu thuyết dày dặn để cùng với tiểu thuyết "Bỉ vỏ" in trước cách mạng của nhà văn Nguyên Hồng được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996.

Cũng trong thời kỳ này, năm 1973 Nguyên Hồng đã xuất bản cuốn hồi ký "Một tuổi thơ văn", năm 1978 xuất bản cuốn hồi ký "Những nhân vật ấy đã sống với tôi" và một số tập thơ, truyện thiếu nhi khác… Đến đây thì ai cũng biết rằng, trong những điều kiện cuộc sống khó khăn dường ấy, điều gì đã thôi thúc nhà văn Nguyên Hồng lao động tận tâm, tận lực? Nhà văn Kim Lân từng nói: "Đời anh, anh chỉ nghĩ đến viết. Tác phẩm này chưa xong, tác phẩm khác đã ngồi chờ. Viết đối với anh là nguồn vui, là lẽ sống, là trách nhiệm, là sự đòi hỏi thôi thúc của đời sống của chính bản thân mình. Anh phải viết. Cần cù nhẫn nại viết".

Theo lời kể của chị Nhã Nam, ngay trong căn nhà xóm Cầu Đen, mỗi lần nhà văn Nguyên Hồng ngồi viết, ông thường mang vào bàn một quả ổi hái ở vườn nhà còn nguyên lá như để tìm cảm hứng. Ông thường viết ban ngày là chính. Hồi đang viết bộ tiểu thuyết "Cửa biển", có lúc ông ngồi vào bàn viết ở gian dưới nhà ngang, lúc mệt thì ngả lưng xuống chiếc chiếu trải dưới đất lom khom thật vất vả. Nhưng dù ngồi ở tư thế nào chữ ông viết bao giờ cũng chân phương, đẹp và cứng cáp, dễ đọc. Giữa những trang viết, có lúc Nhã Nam thấy cha mình cầm chiếc quạt chậm rãi, thong dong đi dạo trong khu vườn như đang tìm kiếm điều gì. Nhìn dáng cha lặng lẽ như đang trò chuyện cùng nhân vật vừa bước ra từ trang viết dang dở, tự nhiên lòng đứa con gái bé bỏng trào lên niềm thương người cha thật vô bờ!

Để dành "thánh đường" cho Nguyên Hồng viết văn trong hoàn cảnh khá ngặt nghèo, dường như cả nhà chị Nhã Nam đều tự giác "chấp hành" tuyệt đối mọi chỉ bảo theo cách ứng xử của người mẹ.

Chị Nhã Nam kể, chưa một lần cha chị tâm sự với vợ con vì sao mình lại bỏ Hà Nội lên Yên Thế. Cũng chưa bao giờ ông trò chuyện với các con câu chuyện nội bộ một thời bên Hội Nhà văn, cũng chưa một lần biểu hiện trước con cái một thái độ, một điều gì đó lăn tăn trong việc đối đãi, cư xử giữa các nhà văn với nhau, giữa cơ quan quản lý văn nghệ với những người sáng tác. Chỉ thấy ông về Hội Nhà văn họp hành, bàn việc gì đó rồi lại nhanh nhẹn trở về Cầu Đen hì hục viết. Và mẹ chị, thỉnh thoảng nói chuyện riêng với ông, hai người nói điều gì đó vui lắm. Đôi chỗ ông bà phải dùng từ tiếng Pháp có lẽ để diễn đạt cho rõ ý. Nhiều bữa, để kịp nộp sách cho nhà xuất bản, mẹ chị bỏ việc đồng áng ở nhà giúp nhà văn chép lại bản thảo. Nhiều khi bà thắp đèn dầu chép văn đến tận khuya. Hình như căn nhà nhỏ trên quả đồi thấp lúc nào cũng tràn đầy tình yêu thương như lọc từ tinh khiết để Nguyên Hồng được thanh thản và đau đớn cho từng câu văn.

Sau những "Cửa biển", sau những "Núi rừng Yên Thế"… là lấp lánh những giọt mồ hôi, lấp lánh sự nén chịu, lấp lánh lòng hi sinh của cả một gia đình dầu nhỏ nhoi nhưng tràn ngập tình thương ruột rà. Từ người mẹ kiên cường ở Hải Phòng lên, từ người vợ thủy chung biết tiếng Pháp ở hiệu sách ngoại văn về, từ đàn con thơ xưa và sau này đã trưởng thành với những suy ngẫm độc lập… tất cả đều lặng lẽ chấp nhận đồng hành cùng với tính cách khảng khái, quyết liệt của một Nguyên Hồng để làm nên một tâm thế giúp nhà văn bình tâm mà sáng tác nơi xóm Cầu Đen.

Có thể nói, nếu không có một nền nếp gia phong trong một ngôi nhà nhiều thế hệ, nếu thiếu đi sự hi sinh "tuân chỉ" của cả nhà trước người bố Nguyên Hồng quyết liệt, nếu thiếu đi một ngôi nhà ở xóm Cầu Đen, liệu chúng ta sau này có cơ hội để được nâng niu những tác phẩm sáng giá làm nên một giải thưởng Hồ Chí Minh của nhà văn Nguyên Hồng? Thế mới biết, những nhà văn như Nguyên Hồng một con chữ nó quý như thế nào!

Bây giờ nghe chị Nhã Nam kể, tôi lờ mờ mới hiểu, vì sao Nguyên Hồng chưa một lần khuyên ai trong 7 người con của mình đi theo nghiệp văn. Ông bảo, viết văn không phải là một nghề, không thể truyền nghề được. Ai có năng khiếu thì cứ theo… Rồi ông lặng lẽ ra đi, không một lời di chúc. Trong cơn mê sảng, ông có nhắc tới "bác sỹ", tới "Hội Nhà văn"; tay đập mạnh xuống chiếu tỏ ý phiền muộn về những trang văn dang dở. Cũng phải thôi, ông là một nhà văn đặc biệt, yêu văn chương và chỉ sống bằng nghề văn suốt cuộc đời mình…

Còn tôi thì nghĩ, gia đình ông, họ có quyền tự hào vì dường như tất cả đã một lòng theo Nguyên Hồng, coi ông như vị "Tổng tư lệnh" và suốt đời lặng lẽ làm điểm tựa cho những tác phẩm của nhà văn lớn. Điều đó càng có ý nghĩa quan trọng như thế nào trong một giai đoạn khúc khuỷu của văn chương…

Hồng Thái, theo CAND Online
đọc tiếp...

11/06/2011

Người mẫu Hồng Quế trong trang phục in tranh Đông Hồ

Giai nhân Hồng Quế đẹp kiêu sa khi hóa thân thành công chúa Ngọc Hân trong bộ sưu tập thời trang mới nhất của nhà thiết kế Hồ Trần Dạ Thảo.

Bước vào làng thời trang từ năm 13 tuổi với việc đầu quân cho một công ty đào tạo người mẫu, Hồng Quế với biệt danh Pink Q đang vụt sáng trên sàn thời trang nhờ một chiều cao ấn tượng (1,79m) cùng phong thái chững chạc và già dặn trong giao tiếp.

Sắc vóc vào tuổi 17 của cô gợi nhớ rất nhiều ðến hình ảnh công chúa Ngọc Hân – người phụ nữ trẻ quyền uy của thành Thăng Long và là nhân vật tạo cảm hứng cho nhà thiết kế Hồ Trần Dạ Thảo sáng tạo bộ sưu tập Huyền thoại người phụ nữ Việt Nam. Ðây là lý do giúp Hồng Quế được mời ðể phác họa chân dung nàng công chúa đầy kiêu sa và quyền quý, thể hiện qua bộ sưu tập.

Ðài các nhưng trẻ trung, mạnh mẽ và sâu sắc cùng hội tụ ở lứa tuổi đôi mươi là thông iệp mà bộ sưu tập muốn chuyển tải.

Bản thêu tay bức chân dung cũng là hình ảnh tượng trưng cho nét đẹp Á Đông, họa tiết xếp nếp công phu và hoa văn nổi trên chất liệu thuần Việt như lụa dập nhăn, taffeta.

Hồng Quế thể hiện sự mạnh mẽ trong bộ trang phục vừa đơn giản vừa phá cách với các chi tiết được chăm chút kỹ càng bằng thủ công.

Mỗi trang phục nhắc nhớ người ta một câu chuyện về văn hóa dân gian, là thông điệp gửi gắm của nhà thiết kế Hồ Trần Dạ Thảo, người từng đoạt giải nhất Doanh nhân Thời trang trẻ Quốc tế 2008 do Hội đồng Anh tổ chức lần đầu tiên. Cuộc thi này hiện đang mời dự thi cho giải thưởng lần 3 năm 2011 – 2012.

Chiếc khăn choàng trong bộ sưu tập có chất liệu hình ảnh lấy từ tranh điêu khắc Đông Hồ. Nhà thiết kế Hồ Trần Dạ Thảo từng có bộ sưu tập Đông Hồ - Tôi yêu văn hóa Việt Nam được triển lãm tại Bangkok.

Theo VietNamNet
đọc tiếp...

Thêm một sân chơi thú vị cho trẻ em

Một không gian trẻ thơ với những góc khám phá thú vị được khai trương hôm nay, ngày 21-5, tại tầng 3 tòa nhà chính của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (tại Hà Nội). Sự kiện này diễn ra đúng dịp kỷ niệm Ngày quốc tế Bảo tàng và Ngày Đa dạng văn hóa.

Các em thiếu nhi sẽ được học rất nhiều trò chơi dân gian tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Ảnh: Nhật Nam

Hơn chục năm trước, khi Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đi vào hoạt động, PGS-TS Nguyễn Văn Huy ấp ủ quyết tâm thành lập phòng khám phá dành cho trẻ nhỏ ngay tại bảo tàng. Ông chia sẻ: "Trẻ em là đối tượng phục vụ cần được chú trọng. Tạo được không gian văn hóa giáo dục cho các em tức là chúng ta đã hoàn thành phần lớn chức năng giáo dục của mình". Cho đến nay phòng khám phá của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam vẫn là điểm đến thu hút nhiều khách nhí nhất. Sau Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, mô hình phòng khám phá đã được nhân thêm tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam và tới đây là Bảo tàng Mỹ thuật.

Nói về sự xuất hiện muộn mằn này, Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam - ông Phan Văn Tiến thừa nhận: "Trước đây chúng tôi chưa có điều kiện để triển khai dù biết giáo dục là một trong những hoạt động cần thiết của bảo tàng". Bà Đào Nguyệt Minh, Phó Trưởng phòng Giáo dục Bảo tàng Mỹ thuật cho biết: "Sân chơi này nhằm tạo một không gian mới tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam dành cho trẻ em, giúp các em khám phá và hiểu sâu sắc hơn về nội dung trưng bày thường xuyên và trưng bày chuyên đề tại bảo tàng... Khi chuẩn bị cho hoạt động giáo dục mới này, chúng tôi đã nhận được sự hỗ trợ rất lớn từ Cục Di sản, Trung tâm UNESCO tại Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu và phát huy giá trị di sản văn hóa thuộc Hội Di sản Văn hóa cùng các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực…".

Với diện tích 70m2 dành riêng cho trẻ em từ 5 - 15 tuổi, thiết kế đẹp, trang thiết bị hiện đại, tại đây các em sẽ được các họa sỹ, cán bộ bảo tàng hướng dẫn tìm hiểu, khám phá nghệ thuật thông qua các hoạt động tô màu (tô màu tranh, tô màu tượng), vẽ tự do, xé dán, xếp hình, xếp hình tranh theo mẫu, ghép tranh khuyết, nặn, in tranh Đông Hồ… Điểm khác biệt của không gian sáng tạo ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam so với các điểm vui chơi giải trí cho trẻ em thường thấy là tất cả hoạt động đều được các chuyên gia xây dựng trên ý tưởng khai thác giá trị di sản dân gian Việt Nam hay những kiệt tác đang được trưng bày tại bảo tàng.

Đúng như PGS-TS Nguyễn Văn Huy chia sẻ, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam có cả một di sản lớn và quý. Không gian sáng tạo này chính là cách để các em tiếp cận với di sản, biết trân trọng những giá trị truyền thống, có kiến thức cơ bản để thưởng thức nghệ thuật.

Đặng Thủy, theo Hà Nội Mới
đọc tiếp...
 

Maudantoc.com trên Facebook
Theo đuôi Maudantoc.com trên Twitter
Maudantoc.com trên Yahoo! Pulse

free counters
Blog Màu dân tộc | Mua tranh Đông Hồ | Thỏa thuận sử dụng nội dung | Sơ đồ trang | Góc báo chí | Liên hệ

Bản quyền 2009 - 2011 Boong bảo lưu mọi quyền.