28/11/2010

Chơi tranh ngày Tết đừng quên tranh dân gian Đông Hồ

Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ đến tháng chạp thì về buôn tranh...

Tết đến xuân về, không thể bỏ qua thú chơi tranh. Bởi "Nhất chữ, nhì tranh, tam sành, tứ mộc" đó là 4 thú chơi tao nhã của người Việt xưa. Tranh Tết, không phải chỉ người lớn mà cả trẻ em cũng thích chơi tranh. Tuy nhiên, tranh cho người lớn có phần khác so với trẻ em.

Ngày nay, thú chơi thứ nhì này có phần không thực sự được chú trọng hoặc cách chơi tranh cũng khác. Khác về cả cách chơi và loại tranh chọn chơi. Có lẽ một phần do tác động của nền kinh tế thị trường, của thời kỳ công nghiệp? Hay do người ta (nhất là lớp trẻ) không được hướng dẫn cách chơi? Đã vậy, những dòng tranh dân gian truyền thống nổi tiếng Việt Nam như Đông Hồ, Hàng Trống... được du khách nước ngoài đặc biệt thích thú, nhưng đối với nhiều người Việt hiện nay lại... trở nên xa lạ.

Xin giới thiệu vài bức tranh Đông Hồ mà ngày xưa hầu như không thể thiếu trong mỗi gia đình, nhất là dịp Tết:

Bức tranh 1: Mục đồng


 Nói về ý chí tiến thân của người xưa.

Trong xã hội phong kiến ta ngày xưa, có rất nhiều những cậu bé thông minh nhưng tài năng của họ không được trọng dụng. Có một cậu bé là thần đồng, cậu căm ghét chế độ đương thời và đã bày ra một trò chơi: Lấy lưng trâu làm kiệu, lấy lá sen làm lọng, tạo ra một cái kiệu sang trọng giống của bọn vua quan ngày xưa và chỉ bọn vua quan mới có. Cậu ta ngồi trên lưng con trâu với một tư thế ung dung và tự tại. Và với tiếng sáo véo von của mình khiến chú trâu cũng vểnh tai lên nghe để hiểu được nỗi lòng của chủ nó muốn sau này phải đỗ đạt làm quan:

''Hà diệp cái thanh thanh''
( Lá sen màu xanh - màu của hy vọng )

Cậu bé hy vọng mình đỗ đạt làm quan.

Bức tranh 2: Dạ xướng ngũ canh hoà (Gà gáy năm canh)


Chữ Hán vế phải: Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín.

Ý nghĩa: Chú gà trống oai phong lẫm liệt, bất khuất không sợ kẻ thù, đồng thời nó cũng thể hiện một đức tính cao quý là chữ Tín:Hằng ngày nó gáy không bao giờ sai. Gà trống bạn của người dân quê, luôn dậy đánh thức mọi người đúng giờ. ý nghĩa của tranh Thể hiện một người luôn đúng giờ, đồng thời mang nhiều điều tốt lành sang năm mới.

Bức tranh 3: Vinh Hoa (Vinh hiển, hào hoa)


- Chỉ có người con trai mới có đức tính như vậy.
ý nghĩa: Cầu chúc cho gia đình mình có con trai mang đầy đủ năm đức tính: văn, vũ, dũng, nhân, tín.
- Văn: thể hiện ở mào con gà: như mã quan tức là học thức của con người.
- Vũ, dũng: thể hiện ở móng và cựa của con gà, thể hiện sức mạnh của con người.
- Nhân: Khi kiếm được mồi con gà thường gọi bầy đàn bằng tiếng cục cục.
- Tín: Báo hiệu cho con người làm việc đúng giờ.
- Bông hoa cúc thể hiện cho sự cao sĩ của người đàn ông.

Bức tranh 4: Phú Quý


- Cầu chúc cho gia đình mình có con gái.
- Xưa các cụ có câu: ''Bách tử phú quí'' ( Sinh trăm con trai giàu sang ).
- Con vịt: rất hiền dịu, nữ tính, đông con thể hiện những đức tính, phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ.

Bức tranh 5: Đám cưới chuột


- Đây là một bức tranh phê phán, nhưng nó cũng thể hiện sự gan dạ dũng cảm của họ hàng nhà chuột. Để đám cưới chuột diễn ra một cách long trọng, dỉnh dang, thì họ nhà chuột đã xử trí một cách thông minh là cống lễ: mang chim , mang cá đến biếu họ nhà mèo.
- Phía bên trên tay phải là chữ Miêu ta không hiểu là ''Mèo'' (Vờm): đại diện cho thế lực tham quan phong kiến ngày xưa. Biết mình đi đến chỗ chết: một con bị sứt đầu, một con cụt đuôi và những con đi phía sau bao gồm : thân thủ (người có võ), lão thủ (già làng) , tắc nhạc (người thổi kèn) đưa tiễn hai con chuột này đến chỗ chết.
- Sau khi đã cống nạp xong rồi thì một đám cưới chuột diễn ra linh đình:
Đi đầu là chú tể (chú rể), và nghinh hôn (người rước dâu).

Bức tranh 6: Hứng dừa


- Chỉ hạnh phúc lứa đôi.
- Trong những ngày hội đầu xuân, những chàng trai cô gái đi hái lộc đầu xuân. Cây dừa cũng là biểu tượng cho hạnh phúc lứa đôi. Còn hình tượng của quả dừa cùi trắng nước trong thể hiện cho một tình yêu trong trắng của đôi trai gái.
- Trên thân cây dừa có một chàng trai rất to khoẻ và vạm vỡ. Chàng trai đã hái liền hai trái dừa đưa xuống cho cô gái vén váy lên hứng dừa(đây cũng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong làng tranh).
- Có một câu hỏi đặt ra là: Tại sao chàng trai lại không hái từng quả một và đưa xuống cho cô gái dùng tay để đón. Lúc này chàng trai đã nghĩ ra một trò rất tinh nghịch và tinh quái. Chàng đã hái 2 trái dừa và đưa xuống, nếu cô gái dùng tay đón thì rất khó và sẽ bị rơi, 2 quả dừa sẽ bị tách ra làm đôi, hạnh phúc cũng từ đó mà ra đi. Bí quá, cô gái không còn cách nào khác vén váy lên hứng trọn lấy 2 trái dừa, tức là hứng trọn hạnh phúc của mình.
Thơ đọc từ phải qua trái:

''Khen ai khéo dựng lên dừa
Đấy trèo đây hứng cho vừa một đôi''

Bức tranh 7: Gia đình (Lợn đàn)

Nói về sự no đủ, hạnh phúc của một gia đình. Khoáy âm dương thể hiện cho sự sinh sôi nảy nở.

Tranh Ðông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng hừng trên giấy điệp

Chỉ với mấy bức tranh dân gian này thôi, mà ngẫm nghĩ đã thấy các cụ ta ngày xưa sao mà sâu sắc đến thế. Tranh cũng rất đẹp, đẹp một cách giản dị nhưng vẫn cao sang, tao nhã và đặc biệt thấm đẫm hồnViệt. Chắc chắn nếu là người Việt Nam thuần chất ai cũng sẽ yêu thích dù trẻ hay già.

Bài và ảnh: Phạm Chức, (Có tham khảo sách làng cổ truyền Việt Nam)
Bài đăng trên tạp chí KHCN&MT số 1/2010
đọc tiếp...

22/11/2010

Đám cưới chuột

Bức tranh chỉ nói chuyện ngày xưa và chỉ nói chuyện mèo chuột nhì nhằng, nhưng có biết bao nhiêu vui buồn trong đó! Mà vui buồn thì lẫn lộn vào nhau, tan biến trong nhau - vui cũng có thể chính là buồn.

Đọc thêm:
>> Bức tranh “Đám cưới chuột” và dòng tranh Đông Hồ hôm nay
>> Tranh: Đám cưới chuột


"Trạng chuột ơn vua cưới vợ làng,
Kiệu son lộng lẫy lọng hoa vàng!
Nàng dâu xứ chuột chân đi đất,
Ngón nhỏ bùn non vẫn dính chân!”

(Ngô Văn Phú)

Trên đây là một phần của sự diễn giải bằng thơ bức tranh Đông Hồ “Đám cưới chuột”. Đây là bức tranh mô tả một đám rước dâu chuột hết sức long trọng. Trạng chuột cưỡi ngựa đi trước. Cô dâu chuột ngồi kiệu theo sau với một đoàn tùy tùng dài không ngớt. Chỉ có điều, để cho tiệc cưới được diễn ra suôn sẻ, họ hàng nhà chuột đã phải hối lộ quan mèo rất nhiều của ngon, vật lạ.

Bức tranh chỉ nói chuyện ngày xưa và chỉ nói chuyện mèo chuột nhì nhằng, nhưng có biết bao nhiêu vui buồn trong đó! Mà vui buồn thì lẫn lộn vào nhau, tan biến trong nhau - vui cũng có thể chính là buồn.

Trước hết, bức tranh là niềm an ủi lớn cho những người đương thời chúng ta. Thì ra, chuyện tham nhũng, hối lộ có từ ngày xửa, ngày xưa, chứ tuyệt nhiên không phải là sản phẩm độc quyền của đời sống hiện đại. Và nếu “lệ làng” có tự ngày xửa ngày xưa, thì chúng ta chỉ có lỗi một phần trong đó - ở cái phần tiếp tục duy trì và mở rộng cái “lệ làng” đó ra.

Thực ra, nếu quyền lực có tự ngày xửa ngày xưa, và sự lạm dụng quyền lực cũng có tự ngày xửa ngày xưa, thì tham nhũng có tự ngày xửa ngày xưa cũng là điều dễ hiểu. Tham nhũng chỉ là một căn bệnh của quyền lực. Kê toa trên giấy cho căn bệnh này thì dễ, nhưng chữa trị nó trong cuộc sống thì khó vô cùng. Thực tế cho thấy, phần lớn các sáng kiến chống tham nhũng đều rất giống với sáng kiến treo chuông vào cổ mèo. Treo chuông vào cổ mèo, thì mèo đi đến đâu chuông kêu đến đó. Họ hàng nhà chuột nhờ đó có thể chạy thoát dễ dàng. Vấn đề chỉ là trong họ hàng nhà chuột ai đủ to gan, và ai có khả năng treo được chuông vào cổ mèo?

Hai là, bức tranh cho thấy đã là mèo thì bao giờ cũng có thể gây khó cho chuột. Chuyện cưới xin là chuyện riêng tư trong đời sống dân sự. Chuột tổ chức cưới mấy mâm, chuột rước dâu như thế nào là chuyện của chuột. Quí hồ chuyện cưới xin này không gây thiệt hại cho người ngoài, thì quan mèo không thể có thẩm quyền can thiệp. Thế nhưng, bức tranh dân gian khuyên chúng ta là chớ có nên tin vào những nguyên tắc của luật dân sự. Quan mèo có thể phá nát đám cưới, nếu như trạng chuột chỉ biết luật trên giấy, mà không biết luật ở đời. Quan mèo là cái bóng quá lớn của công quyền đè nặng lên không gian tồn tại của họ hàng nhà chuột. Mà như vậy thì các quyền sẽ bị hạn chế, các chi phí sẽ phát sinh.

Ba là, bức tranh còn nói lên sự bi hài của địa vị và chức quyền trong cuộc sống. Trạng chuột phi ngựa đưa dâu trông uy phong biết bao nhiêu! Cô dâu chuột ngồi kiệu trông quyền quý biết bao nhiêu! So với họ hàng nhà chuột, thì cô dâu chú rể quả là những đấng cao sang. Tuy nhiên, so với mèo thì cô dâu, chú rể vẫn chỉ là chuột. Sự khúm núm, sự lo lắng vẫn thấp thoáng đâu đó đằng sau sự cao sang. Phải chăng đó cũng là lý do tại sao châm ngôn “Trông lên thì chẳng bằng ai, nhưng trông xuống cũng chẳng có ai bằng mình” lại có sức an ủi to lớn như vậy?

Bức tranh “Đám cưới chuột” còn được ban nhạc Gạt Tàn Đầy chuyển thành bài hát. Được lặp đi, lặp lại liên tục là những lời hát sau đây:

“Ai mang cá đến cho con mèo hoang tàn ác?
Ai mang cá đến cho con mèo hoang say mềm?”

Ai mang nếu không phải là những chú chuột ở quanh ta và ở trong ta?!

TS. Nguyễn Sĩ Dũng
Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Xuân 2008
đọc tiếp...

21/11/2010

Bức tranh “Đám cưới chuột” và dòng tranh Đông Hồ hôm nay

Tranh Đông Hồ phản ánh cuộc sống hồn nhiên và ước mơ giản dị của người dân quê với hàng trăm mẫu tranh ở 5 loại chính: Tranh thờ, tranh lịch sử, tranh chúc tụng, tranh sinh hoạt và truyện tranh. Đi từ cuộc sống lao động, lại được những bàn tay nghệ nhân tinh tế phản ánh, tranh Đông Hồ sống động và rất có hồn.

Tranh Đám cưới chuột

Cái rét ngọt cuối năm không làm vơi đi niềm nao nức, cho chúng tôi tìm về làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) - vùng đất đã nổi tiếng suốt 5 thế kỷ qua với một dòng tranh dân gian được coi như di sản văn hóa không thể thiếu của người Việt.

Qua chợ Hồ, triền đê đầy gió đưa chúng tôi đến làng tranh nằm nép mình thơ mộng bên dòng sông Đuống - cái miền quê nhỏ bé đã trở thành cảm hứng của bao nhà thơ tên tuổi: Tú Xương, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Ngô Văn Phú, Chế Lan Viên...

"Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp"

Giáp Tết nên không khí khắp làng nhộn nhịp lắm. Giấy màu phơi trên các bờ tường, góc sân rực rỡ cả làng. Nhưng không phải cả làng làm tranh như trước.

Giờ đây, Đông Hồ chỉ còn 3 người sống chết với nghề tranh là các ông Nguyễn Đăng Chế, Nguyễn Hữu Sam và Trần Văn Sở - những người đã được công nhận danh hiệu "Bàn tay vàng", trong đó, duy nhất ông Nguyễn Hữu Sam được Hiệp hội Làng nghề Việt Nam phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân làng nghề Việt Nam".

Các nghệ nhân sưu tầm, phục chế các bản khắc, tranh quý và cả phóng tác những bức nổi tiếng. Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam đã ngoài 80 tuổi, nhưng hàng ngày, ông vẫn thảo những nét vẽ tinh sắc cho cô con dâu vờn thủy mặc.

Bây giờ, đang mùa tranh Tết, trong nhà các nghệ nhân đầy ắp tranh. Tranh trên tường, trên giá, trên tủ, bàn, ghế… từng chồng, từng xấp. Khách đến mua tranh cũng rộn ràng. Nhiều người ở tận trong Nam ra mua tranh về làm quà tết tặng bạn bè, người thân.

Hầu như ai cũng chọn bức "Đám cưới chuột" vốn nổi danh từ hàng trăm năm: "Mà bao năm tháng trong tranh Tết/Tiếng trống vinh quy vẫn rộn ràng" ("Đám cưới chuột" -Ngô Văn Phú). Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam bảo, năm tới là Mậu Tý, nên khách đặt vẽ tranh "Đám cưới chuột" hay làm lịch rất nhiều.

Không ai biết đích xác thời điểm ra đời của bức tranh ấy, chỉ biết rằng, nó đã được truyền từ đời này qua đời khác đến tận bây giờ. Tùy theo chú thích mà bức tranh có thể hiểu là "Đám cưới chuột" hay "Trạng chuột vinh quy".

Nhưng cả 2 nội dung đều có không khí vui nhộn với kèn trống, cờ quạt, phù hợp với tâm thế mọi nhà trong dịp đầu năm nên luôn được ưa chuộng. Trên bức tranh còn có 2 hàng chữ đối nhau: "Thử bối đệ ngư: chí, chí, chí" (đàn chuột dâng cá kêu chí, chí, chí). "Miêu nhi thủ lễ: mưu, mưu, mưu" (chú mèo giữ lễ: meo, meo, meo).

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hữu Sam, ngoài không khí tưng bừng, vui vẻ, bức tranh được truyền tụng qua nhiều đời chính bởi ý nghĩa sâu sắc của nó: nhìn vào đã thấy ngay cảnh cá lớn nuốt cá bé.

Đám rước tưng bừng với đầy đủ nghi thức, lễ vật, có chàng chuột cưỡi ngựa đi trước, theo sau là kiệu rước nàng chuột, nhưng giữa đường lại có một lão mèo già to béo trấn giữ, đe dọa. Vì thế, một nhóm chuột phải mang cá, chim đến để cống nạp, lại kèm cả nhạc lễ để bày tỏ vui mừng, nhằm dọn đường cho đám rước đầu xuôi đuôi lọt.

Nét độc đáo của tranh là tiếng cười hóm hỉnh, mỉa mai sâu cay của nhân dân lao động đối với bọn thống trị, cũng là thái độ phản ứng của nhân dân trước nạn tham ô, tham nhũng. Bức tranh như tái hiện cảnh người dân lành xưa thường phải chịu đựng sự áp bức của bọn quan tham. Đó chính là ý nghĩa xuyên thời đại của bức tranh mà vì thế, qua bao thế kỷ, "Đám cưới chuột" vẫn được người chơi tranh yêu thích.

Hơn nữa, bức tranh được tạo nên không chỉ bởi màu sắc, hình khối, mà còn là những rung cảm tinh tế cùng trí tuệ, tài hoa, những triết lý nhân sinh mà các nghệ nhân xưa gửi trong từng đường nét.

Ông Sam giải thích thêm: Nhiều người cho rằng, bức tranh còn chứa đựng tinh thần phản kháng của người dân Việt Nam xưa với kẻ thù truyền thống phương Bắc.

Nơi níu giữ hồn dân tộc

Tồn tại qua nhiều thế kỷ, tranh Đông Hồ được thừa nhận như dòng tranh dân gian được biết đến nhiều nhất ở Việt Nam, in vào tâm khảm hàng trăm thế hệ.

Theo ông Nguyễn Đăng Chế thì nghề làm tranh khắc gỗ dân gian ở Đông Hồ - còn có tên gọi làng Mái - xuất hiện từ thế kỷ XVI. Trước đây, cả làng gồm 17 dòng họ đều làm tranh nên có câu ca truyền khẩu: "Cô kia mà thắt lưng xanh/Có về làng Mái với anh thì về/Làng Mái có lịch có lề/Có sông tắm mát có nghề làm tranh".

Tranh Đông Hồ độc đáo ở chỗ được làm hoàn toàn thủ công, từ màu sắc pha chế, in tranh đến vờn thủy mặc. Tranh in trên giấy dó quét điệp bằng chổi lá thông. Mỗi màu là một bản khắc, một lần in. Màu sắc của tranh được chắt lọc từ thiên nhiên: sỏi son cho màu đỏ, hoa hòe, gỗ vang làm nên sắc vàng, ánh đen từ than tre và màu xanh lấy từ lá chàm...

Tranh Đông Hồ phản ánh cuộc sống hồn nhiên và ước mơ giản dị của người dân quê với hàng trăm mẫu tranh ở 5 loại chính: Tranh thờ, tranh lịch sử, tranh chúc tụng, tranh sinh hoạt và truyện tranh. Đi từ cuộc sống lao động, lại được những bàn tay nghệ nhân tinh tế phản ánh, tranh Đông Hồ sống động và rất có hồn.


Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam cho biết: Bố cục tranh Đông Hồ chặt chẽ đến mức, ông từng thử bỏ một vài chi tiết nhằm tạo sự mới mẻ cho tranh nhưng người xem vẫn yêu thích các bức nguyên bản hơn.

Hình như các nghệ nhân Đông Hồ đã rút ruột tằm, để trong mỗi bức tranh dân gian đều chứa đựng bao điều sâu thẳm về văn hóa, tình cảm và triết lý cuộc đời. Nét vẽ nhuần nhụy, mang theo rung cảm chân thành của các nghệ nhân Việt từng đưa tranh Đông Hồ lên vị trí đáng kể trong nhiều triển lãm nghệ thuật lớn trên thế giới.

Ấy nhưng, mọi điều giờ đây đã thay đổi. Ông Hoàng Bá Nhất - Phó trưởng thôn Đông Khê cho biết: Cả làng Đông Hồ gần 400 hộ giờ chỉ còn 3 nghệ nhân giữ nghề. Những nhà khác đều đã chuyển qua làm hàng mã. Bởi việc tiêu thụ tranh cũng khó, nhất là trong sự cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường với vô vàn tranh ảnh phong phú về mẫu mã, in ấn công nghệ cao.

Ông Nguyễn Như Điều - Phó Chủ tịch UBND xã Song Hồ tự hào: Người dân Đông Hồ năng động lắm. Làng tranh bị thu hẹp thì làng mã lại phát triển. Những người nhất quyết sinh tử với nghề tranh nay đã có thu nhập ổn định từ tranh. Các gia đình khác không tồn tại bằng tranh cũng nhanh chóng chuyển sang nghề gõ phỗng, làm mã vốn tồn tại song trùng với nghề tranh từ trước.

Nghề làm hàng mã không chỉ lúc nông nhàn mà có việc làm quanh năm, lại tận dụng được cả lao động trẻ con và người sức yếu. Tiếng là nghề phụ, nhưng lại cho thu nhập chính: 400-500.000đ/tháng/người. Mỗi gia đình ở đây sản xuất chuyên một mặt hàng chứ không phải làm từ A đến Z: có nhà chuyên làm mũ, có nhà chỉ làm mặt nạ, có nhà chuyên quần áo…

Từ tháng 7 âm lịch, cả làng đã sản xuất hàng mã phục vụ Tết Nguyên đán, Rằm tháng Giêng. Đến tháng 3, lại lao vào làm hàng mã phục vụ Rằm tháng Bảy. Quanh năm, chả lúc nào ngơi tay.

Cứ nhìn vào làng là biết sự sung túc của người dân Đông Hồ: 100% gia đình có nhà xây, điện lưới, xe máy, TV; đường làng 100% bê tông. Giữa làng, có những ngôi nhà cao to, đẹp đẽ như ở đô thị lớn. Có việc làm quanh năm nên Đông Hồ ít tệ nạn, là cơ sở để an ninh ở Đông Hồ duy trì ổn định.

Đại úy Lê Nho Phấn - cán bộ Công an tỉnh Bắc Ninh, phụ trách huyện Thuận Thành cho biết: Xã Song Hồ đã được phong Anh hùng LLVTND và 18 năm liên tục được nhận Cờ thi đua của Bộ Công an và UBND tỉnh về phong trào bảo vệ an ninh, dĩ nhiên trong đó, có sự góp phần không nhỏ của Đông Hồ.

Ông Nguyễn Như Điều băn khoăn: Xã cũng muốn khôi phục làng tranh, nhưng việc tìm đầu ra lại ngoài tầm tay của chính quyền. Hiện tranh Đông Hồ chủ yếu bán cho khách du lịch nước ngoài, chứ tiêu thụ trong nước còn hạn chế. Nếu không phát triển được, mai một của tranh Đông Hồ thật khó tránh khỏi.

Những nghệ nhân gắn bó với nghề bằng cả tình yêu máu thịt, bằng niềm tự hào của một dòng họ làm tranh, như ông Sam, ông Chế, giờ đều đã tuổi cao sức yếu.

Hơn nữa, không ít bức tranh Đông Hồ đã không còn nguyên chất truyền thống, khi nhiều màu sắc đã được sử dụng bằng màu công nghiệp thay cho nguyên liệu xưa cũ mà cha ông vẫn dùng. Một số bản khắc mới không còn nét tinh tế, có hồn như bản cổ. Sự sáng tạo lai căng làm mất đi nét văn hóa vốn có của giá trị truyền thống.

Vọng về từ ký ức

Đình Đông Hồ - di tích được xếp hạng cấp Quốc gia, nằm ở cuối làng. Nhìn ngôi đình cửa đóng then cài, lá rơi phủ kín sân, bước chân chợt ngập ngừng trong niềm tiếc nuối trào dâng.

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế bùi ngùi: Trước năm 1945, cứ tháng Chạp hàng năm, dân làng Đông Hồ thường ra đây bán tranh cho người tứ xứ treo Tết. Nhà nhà mua về dán trên tường và năm sau lại vứt bỏ, mua tranh mới, nên nghề làm tranh mới sống được.

Mỗi năm chỉ một tháng Chạp, như câu ca: "Dù ai buôn bán trăm nghề/Nhớ đến tháng chạp thì về buôn tranh..." mà trong tháng Chạp cũng chỉ có 5 phiên chợ tranh vào các ngày 6, 11, 16, 21 và 26. Người đến chợ tranh, không chỉ bán mua, mà còn để thưởng thức loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo chỉ có ở vùng Kinh Bắc nên thơ.

Bên sân đình, các cô gái Đông Hồ ngồi bán tranh, cho khách mang về chẳng riêng "Tranh Đông Hồ, gà lợn nét tươi trong/Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp" (Hoàng Cầm), mà còn cả nụ cười, ánh mắt, sự lịch lãm của những thôn nữ sinh ra ở mảnh đất hào hoa, nghệ thuật.

Nhưng rồi, năm đói 1945, rồi kháng chiến, thế là chợ mất, làng tranh cũng tan theo. Suốt từ đó, không còn phiên chợ tranh nào được mở nữa. Ngôi đình còn đó. Hồ bán nguyệt rực hồng hoa súng còn đây. Tất cả vẫn vẹn nguyên, mà sao chợ tranh Đông Hồ chỉ còn vọng về từ ký ức? Nét văn hóa độc đáo rất riêng có bao giờ trở lại, để sân đình thôi vắng vẻ giữa bâng khuâng?

Dạ Miên
Nguồn: CAND, 12/02/2008
đọc tiếp...

20/11/2010

Tranh Đông Hồ trên chất liệu đồng

Hôm nay (19/11), nhân đi dự buổi họp mặt bạn bè tại quán Thằng Bờm (113 Trần Não, Quận 2), tình cờ tôi bắt gặp một không gian rất thú vị với những họa tiết trang trí khắp phòng lấy cảm hứng từ dòng tranh dân gian Đông Hồ. Dưới đây là một vài hình ảnh ghi nhận được:


đọc tiếp...

19/11/2010

Tranh: Đánh ghen

Tranh: Đánh ghen

Ván khắc tranh Đánh ghen (âm bản) ở nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế
(Nguồn: wikipedia)

Măng non nấu với gà đồng
Ngon thì vô thử xem chồng về ai?

Măng non nấu với gà đồng thì quả là ngon thật. Măng non thì giòn mềm, gà đồng thịt săn chắc ngọt nước. Thật là một sự hòa hợp tuyệt vời của khoa ẩm thực. Nhưng ở đây nó còn hàm chứa một nghĩa khác, ám chỉ người chồng lăng nhăng kiểu “mèo mả, gà đồng” kiếm gái tơ (măng non). Tuy có thể thỏa mãn được dục vọng, ngon thật; nhưng chắc khó tránh được rắc rối. Lời chú trên tranh thật là một lối chơi chữ tuyệt vời với nhiều hàm nghĩa sâu xa .
“Đánh ghen” là một trong những tranh sinh hoạt dí dỏm cũng mang tính giáo dục. Bà vợ xắn váy quai cồng xông tới, cầm kéo đòi cắt tóc (theo tục xưa, bị cắt tóc là một hình thức phạt rất nặng đối với những người phụ nữ lẳng lơ) cô nhân tình hớ hênh (ngực trần), thách thức, chanh chua. Ông chồng thì bị bắt quả tang rõ rành rành nhưng một tay vẫn đặt lên ngực cô nhân tình ra điều không chịu ăn năn hối lỗi, ôm cô nhân tình vào lòng để bảo vệ, còn tay kia thì để hòa hoãn với bà vợ. Đứa bé thì chắp tay van lạy xin những bậc phụ mẫu thôi đừng giằng co. Nếu cha mẹ nó như vậy thì suy nghĩ ngây thơ con trẻ ấy có còn được vẹn nguyên? Sự kiện này sẽ đi vào tâm thức con trẻ và sẽ khó mà phai nhạt được, đi vào quá trình hình thành nhân cách của nó. Đáng lo lắng thay!

Thật là một tấm kịch đời thường. Sự cường điệu trong mô tả làm cho tranh mang tính hài hước nhẹ nhàng. Người ta còn thấy có những câu thơ được chú trên tranh như: “Thôi thôi một giận làm lành, Chị đừng tức giận cho nhục lòng ta”…, hay là “Thôi thôi nuốt giận làm lành, Chi điều sinh sự nhục mình nhục ta” hàm ý khuyên răn.

Nguyễn Trần Bình

Photobucket
đọc tiếp...

Tranh: Hứng dừa

Tranh: Hứng dừa
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

Tả cảnh sinh hoạt vui vẻ của một gia đình. Đây là một bức tranh vui vì cây dừa đây có cao đến nỗi anh chồng đưa dừa xuống mà cô vợ không đưa tay lên để đón được dừa đâu, cần chi phải hứng dừa làm gì? Quả dừa rơi xuống đất cũng có hư hao gì đâu mà phải hứng? Mà cứ cho là phải hứng đi thì với chiếc váy (chất liệu đâu có được bền như ngày nay) thì làm sao hứng nổi trái dừa, hứng để có nước tuột váy hay rách váy? Với lại còn chưa nói đến nhỡ may quả dừa to, cứng như vậy rơi vào đầu thì sẽ ra sao? Người vợ trẻ trong tranh còn ngây thơ đến mức tốc cả váy lên mà hứng dừa! Ở dưới gốc cây dừa, hai cậu con trai cũng đang tranh nhau mà trèo lên cây giúp bố. Phía bên trên, góc phải còn đề thêm hai câu thơ nôm: “Khen ai khéo dựng lên dừa, Đấy trèo đây hứng cho vừa một đôi”, hoặc có bản khác chép: “Trong như ngọc, trắng như ngà, Đây trèo đấy hứng cho vừa lòng nhau”. Thật là một hạnh phúc hồn nhiên, trong sáng!

Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh trong cuốn “Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam” lại cho rằng: nội dung bức tranh lưu truyền hàng ngàn năm trong dân gian có lẽ không thể chỉ đơn giản như vậy. Cây dừa là một hiện tượng phát sinh và tồn tại tự nhiên của tạo hóa, đâu phải do con người tạo ra? Tại sao lại là “ai”? “Ai” là ai mới được chứ? Sự tung dừa từ trên cây cho người ở dưới hứng thì cực kỳ nguy hiểm, nhỡ nó rơi vào đầu thì sao? Hình tượng của bức tranh không phản ánh thực tế. Nếu quả thật với nội dung đơn giản như trên thì bức tranh có thể được thể hiện với một hình thức khác: như thay cây dừa bằng cây chôm chôm, hoặc nhãn lồng chẳng hạn. Nhưng chính từ lời chú của bức tranh và sự lưu truyền lâu đời trong dân gian khiến cho người xem tranh phải nghiền ngẫm tính minh triết và nhân bản của bức tranh này.

Đại từ “ai” trong lời chú cho thấy tác nhân con người trong việc làm nên sự hài hòa cân đối trong cuộc sống. Hình tượng tung hứng trái dừa – vốn không có trên thực tế – cho thấy tính mâu thuẫn và khó khăn trong đời, trong mối quan hệ giữa con người với con người. Nhưng nếu chính con người biết điều hòa cuộc sống của mình, của môi trường thì sẽ mang lại hạnh phúc cho chính mình và cho cuộc đời. Phải chăng đây chính là tính minh triết và nhân bản trong nội dung của bức tranh này.

Nguyễn Trần Bình

Photobucket
đọc tiếp...

Cặp tranh chăn trâu

Tranh: Chăn trâu thổi sáo
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)
Tranh Chăn trâu thổi sáo

Một tàu lá sen dựng đứng như chiếc ô - ý tưởng thật thú vị. Con trâu nghển cổ thưởng thức tiếng sáo, tư thế, dáng vẻ của nó khiến ta cũng nghe thấy tiếng sáo réo rắt, thấy bầu trời trong xanh lồng lộng, thấy cuộc sống thanh bình... Khi xem bức tranh này, người thưởng thức có thể thấy được sự khoáng đạt, thanh thoát của tâm hồn.

Tranh Chăn trâu thổi sáo được khắc gỗ
ở nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam
Tranh có chữ: "Hà diệp cái thanh thanh" (Lọng lá sen xanh xanh). trong dân gian còn lưu truyền một tựa khác cho bức tranh này là: ‘Thiên thanh lộng suy địch”, có thể hiểu là: “trời xanh trong tiếng sáo”. Bức tranh miêu tả hình ảnh một chú bé ngồi đè lên những bông sen trên lưng trâu, đang say sưa thả hồn theo tiếng sáo. Con trâu (không hề có sự ràng buộc của dây chằng) ngóc đầu lên như muốn đồng cảm với con người. Trên đầu chú bé là một chiếc lá sen được cường điệu lớn hơn bình thường (so với tương quan tỷ lệ thực) nhưng vẫn rất hài hòa cân đối. Trong bức tranh này, chúng ta cũng có thể tìm thấy những ý tưởng trí tuệ và nhân bản. Sự an bình của cuộc sống toát ra từ hình tượng của bức tranh, chính là tính nhân bản của bức tranh này. Bạn đọc có thể tìm thấy trong bức tranh này một nội dung mang tính minh triết của Phật giáo: tính phá chấp (ngồi đè lên bông sen), sự chế ngự bản ngã (cưỡi trâu) và sự hoà nhập chân tính của con người với thiên nhiên. Nhưng từ một góc độ khác, Nguyễn Vũ Tuấn Anh cho rằng bức tranh “Chăn trâu thổi sáo” không xuất phát từ ý tưởng Phật giáo, mà mang một giá trị minh triết từ nền văn minh Lạc Việt. Hình tượng chiếc lá sen che trên đầu chú bé giống hình tượng của cây nêu: biểu tượng của Thái cực. Đó là sự vươn lên dẫn tới hoà nhập hoàn toàn với thiên nhiên; tức là đạt tới bản thể của Tạo hoá. Lời chú thích lưu truyền trong dân gian của bức tranh minh hoạ cho ý tưởng này: “Thiên thanh lộng suy địch”; tức là “Trời xanh trong tiếng sáo”. Khi tâm hồn con người thanh thản, vô tư như trẻ nhỏ buông trong tiếng sáo thì bao trùm cả trời xanh, hòa nhập trong vũ trụ. Hình tượng thoát tục của bức tranh này gần gũi với nhân sinh quan Đạo giáo. Nhưng phải chăng tính minh triết Phật học có sự gần gũi với tính minh triết trong xã hội Lạc Việt cổ, nên có thể có sự giải thích riêng cho cùng một hình tượng nghệ thuật?

Tranh: Chăn trâu thả diều
(Tranh nàh nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)
Tranh Cưỡi trâu thả diều có chữ "Vũ thu phong nhất tượng" (Một hình ảnh gió thu múa). Một cậu bé nằm ngửa trên lưng trâu thả diều... thật thú vị. Một câu phương ngôn về trẻ chăn trâu: "Đầu đội nón mé như lộng che - Tay cầm cành tre như roi ngựa". Thực tế khó có thể nằm trên lưng trâu mà dong cánh diều bằng nón mê như vậy? Thế mà ngắm tranh ta vẫn thấy khoái! Tính minh triết trong bức tranh này lại là sự bổ sung cho bức tranh “Chăn trâu thổi sáo”. Chiếc nón vốn đội trên đầu chú bé mục đồng lại bay bổng lên cao như sự vươn lên của trí tuệ.

Bức tranh này còn có hai dị bản khác, một bức có chữ "Vũ thu phong nhất dực" (gió thu múa, một cánh), bức kia có chữ "Nhất tương phúc lộc điền" (một hình tượng cho sự hạnh phúc ở trần gian) - cũng thú vị không kém. Chính hình tượng chiếc nón bay bổng trên không gian là sự thể hiện nội dung mà bức tranh này muốn nói tới: Một trong những hạnh phúc của trần gian chính là sự chế ngự được bản ngã và vươn tới đỉnh cao của trí tuệ.

Nguyễn Trần Bình
đọc tiếp...

18/11/2010

Tranh: Chuột rước trống

Chuột rước rồng
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)
Hai chữ Rước rồng xuất hiện trên bức tranh đi liền với hình ảnh hội hè vui vẻ. Có thể nói, chỉ với hình ảnh con chuột nhưng người nghệ nhân dân gian bằng óc tưởng tượng sáng tạo, độc đáo của mình đã vẽ nên bức tranh Chuột rước rồng nói riêng và 3 bức tranh chuột nói chung hết sức đặc sắc, sinh động.

Xem thêm:
Tranh: Chuột vinh quy
Tranh Đám cưới chuột
đọc tiếp...

Tranh: Chuột vinh quy

Chuột vinh quy
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

Trong tranh này, chuột tuy đỗ tiến sĩ (hai chữ này được đề trên tấm biển) vinh quy về làng (hai chữ Vinh quy trên lá cờ) vẫn phải cống nạp cho mèo (ba chữ Miêu thủ lễ). Có người cho rằng, bức tranh này nói tới việc phép vua thua lệ làng trong xã hội xưa.

Xem thêm:  Tranh Đám cưới chuột
đọc tiếp...

16/11/2010

Tranh Đông Hồ và thơ Lục bát

Làng quê Việt Nam xưa, nhất là ở miền Bắc, cứ vào dịp Xuân về, Tết đến, ta thường thấy một loại tranh vẽ trên giấy bản khổ nhỏ cỡ 20 x 26 cm bầy bán la liệt nơi các tiệm tạp hóa, các phiên chợ quê bên cạnh món mứt gừng, mứt bí, kẹo bột, trà tầu, thuốc lào, pháo chuột...

Nét vẽ những loại tranh này thường thô sơ, giản dị, được in ra hàng loạt từ những bản khắc bằng gỗ theo lối thủ công, mầu sắc tươi sáng, lòe loẹt, nguyên thủy, gồm đủ xanh, đỏ, vàng, đen, tím…không pha trộn cầu kỳ. Đề tài phần lớn hết sức bình dân: Con gà cất cao cổ gáy lúc mặt trời mọc; Mụ lợn sề nằm ưỡn cho đàn con bú sữa, đám cưới chuột, trai gái hái dừa, đánh đu…

Người ta mua tranh để phát cho trẻ con chơi, may thêm cho mỗi đứa một bộ quần áo mới, mấy đồng tiền kẽm lỳ xì… tất cả những cử chỉ đó đã nói lên lòng thương mến của ông bà cha mẹ đặc biệt thổ lộ với con cháu nhân lúc Xuân sang.

Người ta cũng mua tranh dán đó đây trên vách, trang hoàng cho nhà cửa thêm rực rỡ trong mấy ngày tết, sau đó dẹp bỏ chẳng có lưu giữ làm gì vì loại giấy vẽ không bền, vì tranh còn sẽ tiếp tục  “tái bản”  hàng loạt theo nhu cầu.... Chắc chắn năm sau nếu muốn cứ ra chợ mua dễ dàng, giá cả cũng rẻ thôi! Rồi treo lên… để cho mùa Xuân mới, nhà cửa lại tràn đầy hình ảnh tưng bừng với những giống vật gần gụi:

Con gà cục tác lá chanh

Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi,
Con chó khóc đứng, khóc ngồi, 
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng giềng!

Theo Toan Anh trong “Các Thú Tiêu Khiển Việt Nam”, chơi tranh Tết là một tập quán của người xưa, tranh Tết cũng cần cho ngày tết như pháo, như câu đối, như cây nêu…

Tranh Tết là một loại tranh bình dân đặc biệt Việt Nam, không kỳ lạ như tranh tây phương, cũng không trau chuốt nhu tranh Tầu. Nó dản dị, hồn nhiên đượm đầy dân tộc tính và đề tài tranh tết thường là những cảnh, những việc, những tình… hàng ngày ăn nhập với đời sống con người…

Bức tranh hứng dừa vẽ cậu con trai bám chót vót trên ngọn cây cao bẻ dừa thả xuống cho cô con gái đứng dưới, dáng điệu tích cực,hợp tác, với phục sức thật dản dị dễ thương. Phần trên thân thể che mỗi tấm yếm đào, hồn nhiên hai tay cầm gấu váy để hứng…thực là một cảnh tượng độc đáo rất đáng ghi lại làm kỷ niệm những ngày vui Xuân của đám thanh niên nam nữ làng quê.

Khen ai khéo vẽ nên dừa,
Đấy chèo đây hứng cho vừa một đôi.

Hình ảnh lợn mẹ nằm thoải mái, vô tư lự đang cho con bú đã nói lên được cả một sức sống mãnh liệt tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác, mà tình mẫu tử ở đây cũng coi bộ “rạt rào”, bao la như biển Thái Bình đấy chứ!


Tuy nhiên một cách khách quan, chúng ta phải khiêm tốn chấp nhận rằng, ngoại trừ tranh Đông Hồ, nền hội họa cổ của Việt Nam chẳng có gì đáng kể và cũng tiếc thay, không những thế, hiện tại thì những bức tranh Xuân này đã ngày càng hiếm hoi.

Nào ai có lòng hoài cổ, khi nhìn lại cành mai chớm nở mấy bông vàng, chợt nghĩ tới, muốn có vài bức treo lên, ngắm nghía, tưởng nhớ đến những kỷ niệm, khoảng thời gian xưa trong bầu không khí đầm ấm rực rỡ hương hoa của ngày Xuân thanh bình nơi thôn dã chắc cũng phải thất vọng vì khó kiếm đâu ra!

Nói thế chẳng có nghĩa là hình ảnh những bức tranh này đã chết hẳn. Thực ra nó chỉ không có mặt rầm rộ phổ thông như trước, nguyên nhân cũng dễ hiểu, nó không còn được ưa chuộng, hoan nghênh như trước nữa!

Lý do là xã hội và xã hội Việt Nam nói riêng đã theo đà tiến bộ, văn minh nên mọi sự đã thay đổi rất nhiều.

Nhiều vùng quê đã sử dụng máy cầy thay trâu kéo, rải rác trong lũy tre xanh ban đêm đã có nhiều nơi dùng máy phát điện do bà con chòm xóm chung đụng, ”ra tỉnh” mua về sài cho thêm tiện nghi. Bây giờ, người ta đã không còn ngạc nhiên khi thấy bên cạnh năm ba con trâu gặm cỏ, gần chiếc xe Honda hai bánh, dựa vào cột đèn, cô thôn nữ đang vừa cười vừa nói điện thoại cầm tay…

Nếu ai mục kích những hình ảnh đó và nhiều hình ảnh văn minh tiến bộ khác nữa như TV, tủ lạnh… chắc sẽ hiểu lý do tranh Đông Hồ dù có gía trị đến đâu ngày nay cũng phải từ từ rút lui vào một vị trí khiêm nhường hơn trước, âm thầm lặng lẽ hơn trước, và nó chỉ “tay bắt mặt mừng” với ai là “tri kỷ tri bỉ”, “biết của biết người”.

Nhưng cũng nhờ ở cái vị trí thu gọn hiện nay mà tranh Đông Hồ đã có thời gian nhẩn nha trau chuốt thêm, rút tỉa tinh tế thêm để dần dần trở thành một nghệ phẩm thực sự, hy vọng rồi đây sẽ xứng đáng được nói đến như những phần văn hóa của tiền nhân theo dòng lịch sử.

Cũng theo Toan Ánh thì nghề vẽ tranh này gốc ở Trung-Hoa, mới nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XV. Người đem nghề này vào nước ta là ông Lương Như Học, đậu tiến sỹ đời Lê, năm Đại Bảo thứ III (1442) hiện ông được dân làng Đông Hồ thờ làm Thành Hoàng.

Bức tranh lợn, gà…ngày nay vẫn giữ những đường nét, hình thức, bố cục y như cũ thôi. Vẫn làm theo lối in mộc bản, nhưng vật liệu thì không còn dùng loại giấy thô sơ nhu trước, thay vào đó là giấy gió lụa mịn màng, thớ dai, thường được quệt lên một lớp điệp, hay một lớp vang đỏ, hoè vàng…Mầu sắc những nét vẽ trong tranh thì dùng mấy thỏi son, than lá tre, lá chàm, hoa hòe, gỗ vang…tất cả những vật liệu này đã được một số người làng Đông Hồ dùng khả năng, kỹ thuật hiểu biết gia truyền để o bế tạo nên những tác phẩm càng ngày càng có nhiều tính chất nghệ thuật dân tộc, nên bây giờ, thay vì người ta gọi là tranh lợn gà như trước kia, nó đã được trân trọng mang tên Tranh Nhân Gian Đông Hồ (Dongho’s Folk Paintings) và có lẽ cũng chỉ còn tìm thấy loại tranh này nơi làng Đông Hồ huyện Thuận Thành, tỉnh Hà-Bắc mà thôi.

Ngày trước, riêng làng Đông Hồ có tới gần hai chục họ tộc tham gia trong việc sản xuất loại tranh này, hiện nay chỉ còn một vài gia đình theo đuổi nghề nghiệp cũ của ông cha để cố gắng bảo tồn, và để cung cấp cho khách sành điệu cũng như một số người ngoại quốc muốn tìm hiểu nét vẽ đặc thù của dân tộc Việt Nam ta.

Hỡi anh đi đường cái quan,
Dừng chân ngắm cảnh cho tan mối sầu,
Mua tờ tranh điệp tươi mầu,
Mua đàn gà lợn thi nhau đẻ nhiều!

Như đoạn trên vừa đề cập, thế là bây giờ cả người ngoại quốc khi có dịp ghé Việt Nam cũng ưa tìm mua loại tranh này. Tưởng tượng thấy họ cầm bức tranh, tâng tiu, ngắm nghía, cười hồn nhiên, vui mừng…Ta tự hỏi thầm, ngoài một số ít có căn bản hội họa, không biết phần đông họ có hiểu gì qua những hình thể đơn sơ bề ngoài của hầu hết những bức tranh Đông Hồ. Hay chỉ vì túng đề tài làm quà cho mấy người thân ở nhà nên cứ mua đại xách lên phi cơ… cũng kể như chiếc nón bài thơ, cây đàn cò ngồ ngộ…

Hội họa cũng như âm nhạc là những thứ ngôn ngữ quốc tế mà người Au-Mỹ khá rành. Cho nên nghi ngờ họ không thưởng thức, khám phá ra cái hay cái đẹp thì hơi chủ quan. Mặt khác để cho vô tư công bằng có lẽ cũng phải thêm: Sự thực là biết đâu cái nhìn của họ và cái nhìn của ta khác nhau, ngay như giữa chúng ta sự thưởng ngoạn của mỗi người cũng nhiều khi khác nhau chẳng làm sao nêu ra những lý lẽ để tiến tới đồng lòng được.

Hơn nữa, tiếng là tranh Đông Hồ giản dị, nhưng cũng có những bức ẩn dụ nhiều ý nghĩa thâm trầm, sâu sắc thấm đượm văn hóa đông phương mà chúng ta có thể cùng nhau tìm hiểu để cùng nhau chấp nhận được. Về điểm này, xin đơn cử bức tranh Trung Nam Bản Xã để làm thí dụ.

Bức Trung Nam Bản Xã trình bầy trong một hình chữ nhật, mô tả một đoàn thanh niên đang diễn hành biểu dương sự vui tươi lành mạnh vào dịp hội mùa Xuân với cờ, quạt, trống, bảng hiệu, lọng che…

Tranh vẽ dùng ba mầu: đen, đỏ xậm và hồng tươi trên nền giấy quệt một lớp điệp xám nhạt, toàn diện nhìn rất hòa hợp với nhau. Tấm bảng dẫn đầu với bốn chữ Trung Nam Bản Xã giới thiệu cùng mọi người: bọn họ thuộc lớp trai tráng trong làng.

Chữ xã ở đây mượn của Tầu. Người Việt Nam xưa tụ tập sống từng nhóm có những tên như: Chiêng (Chiêng Yên Kênh quê hương mẹ Trịnh Kiểm), Bản (Ban MêThuột), Kẻ (Kẻ Noi), Làng...

Chữ Trung xác dịnh dám thanh niên không còn trẻ (thiếu), nhưng cũng chưa già (lão). Bảng tên dùng chữ Nho vì ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa. Ngày ấy, có thể nước ta chưa có chữ viết, lại bị người Tầu đô hộ nên dù muốn dù không bắt buộc phải dùng chữ Hán. Cũng nhờ chữ Hán nên Việt Nam có nhiều danh từ đã được “Hán tự Hóa” từ chỗ thô sơ tới hoa mỹ như O Soan trở thành Suyên Nương…đó là bước thứ nhất.

Tiếp theo do nhu cầu phát sinh ta đã sáng kiến tạo dựng ra chữ Nôm căn bản là dựa vào chữ Hán… Tuy dựa vào chữ Hán nhưng đó là chữ của nước ta, người Trung Hoa nhìn vào chữ Nôm không đọc được. Hơn thế nũa, đôi khi ngay như cùng là người Việt Nam, cùng biết chữ Nôm cũng không hiểu được nhau qua chữ Nôm lý do là mỗi người viết và hiểu một cách, chưa thống nhất.

Trên tranh Đông Hồ nhiều bức tô điểm thêm chữ Nôm cho thêm rõ nghĩa, thêm hoa lá cành như bức tranh Hứng Dừa chẳng hạn. Hai câu lục bát viết bằng chữ Nôm của bức tranh trình bầy hơi ít rõ ràng vì hàng thứ nhất bên phải ngoài câu lục (sáu chữ) lại viết thêm hai chữ của câu bát (tám chữ ) của hàng thứ nhì…Tuy nhiên hai câu thơ rất ý nghĩa, tuyệt vời…

Khen ai khéo vẽ nên dừa,
Đấy trèo đây hứng cho vừa một đôi.


Hai câu thơ này của ai? Không thấy ghi tên tác giả. Tất cả những bức tranh Đông Hồ cũng vậy. Nó chẳng giống như tranh cổ Trung Hoa, Họa sĩ Tầu khi vẽ xong bức tranh thường cũng hay tự mình viết thêm hoặc mời một danh sĩ khác đề thơ, “Nhất thi nhất họa.” Bè bạn ai họa ai thơ đều ghi tên họ đàng hoàng, ai không đề thơ có quyền đóng triện son (cũng là hình thức ký tên) để làm kỷ niệm như ta thấy trên bức “Mã dữ mã phu độ giang” của Tào Mộng Phủ (1254 – 1322) trưng bầy tại Freer Gallery of Art, Washington.

Trở lại bức tranh Trung Niên Bản Xã, ta thấy nét vẽ không chồng lên nhau, người này không che lấp người khác. Đó cũng kể như một sự kiện đặc thù, giống như loại tranh thủy mạc của Trung Hoa có cái độc đáo là chẳng cần theo luật “Đường chân trời” xa gần của thị giác mà trông vẫn…”có lý”, thơ mộng.

Bố cục bức tranh rất vững vàng, có khung vuông (bảng tên), có hình tròn (cái trống) gợi ta nghĩ tới sự uyển chuyển hòa hợp vuông tròn của trời đất, gợi nghĩ tới sự tích bánh trưng bánh dầy…

Hình tròn của trống Lưỡng Nghi ở trung tâm bức tranh nhìn thật nổi, thật bắt mắt với đám “trung niên” hai bên nào cờ, nào quạt đang rầm rộ tiến bước theo sau kẻ dẫn đầu câm bảng hiệu hãnh diện giới thiệu họ là đám trung niên trong làng.

Trong hầu hết tranh Đông Hồ bức nào cũng nhắc nhở với dấu hiệu Âm Dương. Âm Dưong là nguyên thủy của vạn vật, như con người có nam có nữ mà cái nguyên thủy của nam nữ là một đề tài muôn thuở, vô tận…

Đoàn diễn hành mỗi người chỉ bận cái khố đơn giản, giống như cái khố mawashi của các võ sỹ đô vật Nhật Bản. Nhưng có điều đáng nói là ngắm tranh ta tuyệt nhiên không thấy thô tục, không thấy lòng mảy may gợi dục. Mà tại sao chẳng để cho họ mặc quần áo nhỉ? Phải chăng mục đích muốn biểu dương sự cường tráng, khỏe mạnh tự nhiên trong lành, và phải chăng người họa sỹ nhà quê muốn trổ tài ra cái điều cũng ngang ngửa với các đồng nghiệp xuất thân từ các trường cao đẳng chuyên môn với những bức khỏa thân tuyệt đẹp!

Những điều phải chăng trên đây kể cho vui vậy thôi, nói cho ngay, đóng khố là đúng sự thực! Vì công qũy làng thôn hồi xưa lấy đâu tiền để may đồng phục cho mọi người, còn nếu bắt mọi người tự túc thì nhiều thành viên lo không nổi. Một bộ đồng phục để mặc vài lần trong năm là phí phạm chẳng thể sẩy ra cho vùng quê nước ta hồi bấy giờ.

Hồi bấy giờ nước ta nghèo lắm, đôi khi khố cũng chẳng đủ mà mang như chuyện hai bố con Chử Đồng Tử gia tài chỉ có một cái khố thôi mọi người hẳn còn nhớ chứ!

Bây giờ nhìn bức tranh thấy cái lọng che chiếc trống. Có người nói giữa trống vẽ dấu hiệu âm dương, mà âm dương là một triết lý, đạo nguyên thủy, “nhất âm nhất dương chi vi đạo” nên phải có lọng che cho uy nghi, trịnh trọng. Người khác không đồng ý nói nếu bàn như vậy thì hơi mông lung, sự thực trống cần có lọng che dản dị là để tránh mưa nắng, bảo vệ cho tang trống khỏi hư hao lúc nắng mưa thôi, vì tiếng trống giữa đám đông là rất cần thiết. Tế lễ, ra trận, múa sư tử chỗ nào cũng cần có trống, nếu để tang trống ướt vì mưa, hoặc rách, lủng lỗ thì hiệu lệnh của trống ban ra không còn trung thực, hào hứng và ý nghĩa nữa.

Một điểm khác, ta lại thấy người nào trong tranh cũng búi ló củ hành! Điều này làm ta nghĩ đến một quan điểm xưa, người Việt Nam giống người Trung hoa là thân thể do cha mẹ sinh ra rất quý, không nên cắt bỏ, dù là sợi tóc. Tại đây cũng có quan niệm cũ ta và Tầu khác nhau: Trung Hoa thi kết tóc đuôi sam còn người Việt Nam thì không làm như vậy mà lại búi gọn lên như một củ hành ỏ sau gáy cho…hách!

“Hồi xưa trẻ con bất kể nam hay nữ đều được cao trọc đầu hoặc chỉ để ba chòm tóc ngắn ở phía thóp và hai bên mang tai trông giống như những trái đào, cũng đẹp. Lớn lên, chừng 12 hoặc 13 tuổi khi tự mình giữ được sạch sẽ, lúc đó con trai mới bắt đầu búi tó, con gái mới kẹp tóc vấn khăn, làm dáng, để tóc mai, đuôi gà. Kiểu tóc vừa trình bầy theo ông H.Maspero thấy ở xã hội nước ta từ thời thượng cổ, duy có nhà sư hay người làm ăn lam lũ thì mới cạo trọc đầu.” (Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Đào Duy Anh.). Về sau toàn quốc phát động phong trào Duy Tân, mọi người nhận thấy để búi tó củ hành không hợp vệ sinh, mất thì giờ chăm sóc nên đã hưởng ứng cắt tóc ngắn. Trong số những người cắt tóc ngắn đầu tiên có cả vua Thành Thái: “Húi hề! Húi hề! Bỏ cái ngu này! Bỏ cái dại này!” (Theo GS. Hứa Hoành, Sau Bức Cấm Thành Nhà Nguyễn.)

Nay nhìn vào tấm bảng dẫn đầu ta thấy bốn chữ “Trung Nam Bản Xã.” rất cân đối. Hai thực thể Trung Nam và Bản Xã ràng buộc quấn quýt nhau như Am và Dương vậy. Trung Nam cần Bản Xã để có địa bàn khai triển, hoạt động, hành sử việc đời. Tuổi của trung niên là tuổi hành động, thực hiện trách nhiệm, bổn phận…”Tam thập nhi lập!”. Ngược lại Bản Xã không có đám trung niên rường cột thì cũng khó đứng vững.

Về phương diện cụ thể điều hành, trung nam là thành phần chủ chốt lo toan gánh vác mọi công việc của làng xã. Lớp thiếu niên là những kẻ chưa vào đời, còn các vị bô lão thực sự chỉ giữ nhiệm vụ cố vấn.

Lại nữa, xã hội Việt Nam thời bấy giờ còn chưa chấp nhận người phụ nữ tham gia gánh vác việc làng việc nước cho nên trai tráng (trung niên) là một nỗ lực quan trọng. Ong lý trưởng phải luôn nắm vững, và luôn cập nhật hóa danh sách trung niên trong làng. Ong ta phải biết rõ có bao nhiêu “xuất đinh” để điều hành sử dụng khi hữu sự vào những việc như đê điều, canh gác, sửa chữa đường xá…ngõ hầu tạo dựng được một tập thể thanh bình, phồn thịnh, tôn trọng luật lệ trong lũy tre xanh.

Nhưng chuyện này cũng cần được giữ kín bên trong lũy tre xanh, nó là “Bí mật quốc phòng” không nên để các làng lân cận biết rõ, và nhất là không nên để quan huyện tỏ tường. Mặt khác, quan huyện sở tại cũng muốn và cũng cần biết rõ mỗi làng có bao nhiêu xuất đinh, nghĩa là quân số thực sự dưới tay được bao nhiêu để khi cần cũng hành sử như lý trưởng nhưng ở một quy mô rộng hơn. Theo Hoàng Văn Chí, phủ huyện thường gọi lý trưởng tới cật vấn việc này, quan lớn thì quát tháo bắt ông lý phải tăng thêm nhân số, lý trưởng thì gãi đầu, gãi tai, kể khổ, kỳ kèo bớt một thêm hai…cố tình khai bớt càng ít càng có lợi!

Như vậy, từ một bức tranh Đông Hồ, ta có thể suy ra nhiều điều lý thú, đôi khi lan man gần như lạc đề, nhưng nhân dịp này, người viết mạo muội trình bầy ít dòng thô thiển, lập lại mấy điều nghe thấy, đọc được nơi báo chí, sách vở của các bậc học giả bốn phương, gọi là nhắc nhớ đến một vài hình ảnh lịch sử, quê hương giữa cuộc đời trôi nổi lạc lõng ở nơi đất khách xa vời.

Xa quê bao nỗi nhớ mong
Dăm ba câu chuyện lòng vòng cầm chơi.

Nguyễn Phú Long
đọc tiếp...

15/11/2010

Tranh Đông Hồ trên chất liệu làm khoa Con voi

Khóa Con voi là một thương hiệu khóa uy tín của công ty khóa Huy Hoàng. Ngoài sản xuất các loại khóa, công ty khóa Huy Hoàng còn sản xuất một số mẫu đĩa lưu niệm từ chất liệu kim loại bền vững chuyên dùng làm khóa.

Một số bức tranh Đông Hồ được truyền lên đĩa lưu niệm:

Tranh Hứng dừa
Tranh Em bé ôm cá

Các tranh khác:

Khuê Văn Các
Chùa Một Cột
Hồ Hoàn Kiếm
Cột Cờ
Chợ Bến Thành
Khuê Văn Các
Rồng

Nguyễn Trần Bình
Nguồn ảnh: Công ty TNHH Khóa Huy Hoàng
đọc tiếp...

Nơi lưu trữ một dòng tranh dân gian

Tranh Đông Hồ, dòng tranh dân gian hàng trăm năm tuổi của Việt Nam từ lâu đã nổi tiếng trên khắp thế giới bởi màu sắc tươi sáng và vẻ đẹp độc đáo. Dòng tranh này đang có nguy cơ bị mai một dần khi thị hiếu thưởng thức tranh đã khác xưa. Nhưng nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế từ nhiều năm qua vẫn âm thầm gìn giữ dòng tranh này và mới đây ông đã thành lập Trung tâm Văn hóa tranh dân gian Đông Hồ với mong muốn giữ lại nghề xưa cho muôn đời sau. Trung tâm Văn hóa tranh dân gian Đông Hồ được gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đặt ngay tại làng tranh Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Cùng với 5 người con, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã quảng bá rộng rãi và đem lại thành công cho Trung tâm ngay từ những ngày đầu hoạt động.

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đang giới thiệu bức tranh “Đám cưới chuột”.
Tranh “Đàn gà”.
Tranh “Con cá”.
Tranh “Lợn đàn”.
Tranh "Đánh ghen"

Tranh "Hứng dừa"
Để in một bức tranh hoàn chỉnh cần nhiều bản khắc gỗ.
Chạm khắc bản in.
Du khách chăm chú quan sát các công đoạn để in một bức tranh dân gian Đông Hồ.
Du khách quốc tế rất quan tâm tới tranh Đông Hồ.
Trung tâm gồm 3 gian nhà mái ngói theo kiến trúc đặc trưng nông thôn Việt Nam , vừa là nơi trưng bày các sản phẩm tranh, bản khắc gỗ, vừa là nơi trực tiếp sản xuất tranh. Ngoài ra, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế còn rất chú trọng đến mảnh sân gạch và vườn ao rộng rãi tạo nên một không gian làng quê thân thuộc.

Tại Trung tâm, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế trưng bày hơn 100 bản khắc gỗ quý hiếm có tuổi thọ trên dưới 200 năm, hàng nghìn bản khắc nhái và hàng trăm mẫu tranh các loại. Từ bộ tranh quý hiếm như “Thạch Sanh” (có từ vài trăm năm trước) đến những bức tranh quen thuộc với hầu hết mọi người như: “Đám cưới chuột”, “Hứng dừa”, “Lợn đàn”, “Đánh ghen”… đều được nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế lưu giữ đầy đủ. Trung tâm được xem như là “Bảo tàng” của dòng tranh dân gian Đông Hồ. Tuy Trung tâm mới đi vào hoạt động được hơn một năm nhưng nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế rất tự hào cho biết: “Trung tâm đã đón hàng nghìn lượt khách trong nước và quốc tế đến tham quan và tất cả đều rất thích tranh Đông Hồ. Họ không chỉ xem tranh mà còn mua về làm kỷ niệm”. Khi chúng tôi đến, Trung tâm đang có đoàn khách du lịch Pháp và một nhóm sinh viên Hàn Quốc tham quan. Với họ, ấn tượng đầu tiên là các bức tranh ở đây rất ngộ nghĩnh, đáng yêu và chất liệu tạo nên thì rất độc đáo, hoàn toàn lấy nguyên liệu từ thiên nhiên. Ngoài những bức tranh được in trên giấy truyền thống, tranh Đông Hồ còn được in thành những quyển lịch bằng mành trúc, các tấm thiệp nhỏ bằng bàn tay rất tiện sử dụng và không kém phần tinh xảo; từ bản khắc gỗ âm bản, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế còn tạo ra bản khắc dương bản, có thể sử dụng để trang trí. Chính vì vậy mà các sản phẩm của gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế được rất đông khách trong và ngoài nước tìm mua, đặt hàng làm đồ lưu niệm.

Vậy là sau nhiều năm trăn trở tìm lối ra cho nghề, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế giờ có thể tạm hài lòng với những gì mình làm được. Ông cùng với Trung tâm Văn hóa tranh dân gian Đông Hồ đã góp phần không nhỏ trong việc khôi phục và gìn giữ một dòng tranh dân gian bên bờ sông Đuống.

  • Tranh Đông Hồ có tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, là một dòng tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
  • Tranh được in hoàn toàn bằng tay với các bản màu; mỗi màu dùng một bản, và bản nét (màu đen) in sau cùng.
  • Giấy in tranh Đông Hồ được gọi là giấy điệp .
  • Màu sắc sử dụng trong tranh là màu tự nhiên từ cây cỏ.
  • Nội dung tranh Đông Hồ gồm nhiều thể loại: tranh thờ, tranh lịch sử, tranh chúc tụng, tranh sinh hoạt

Bài: Hà Anh – Ảnh: Hoàng Giáp
Theo Báo ảnh Việt Nam
đọc tiếp...
 

Maudantoc.com trên Facebook
Theo đuôi Maudantoc.com trên Twitter
Maudantoc.com trên Yahoo! Pulse

free counters
Blog Màu dân tộc | Mua tranh Đông Hồ | Thỏa thuận sử dụng nội dung | Sơ đồ trang | Góc báo chí | Liên hệ

Bản quyền 2009 - 2011 Boong bảo lưu mọi quyền.