27/07/2010

Tranh: Đinh Tiên Hoàng cờ lau tập trận


Đinh Tiên Hoàng cờ lau tập trận
(tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

Đinh Tiên Hoàng cờ lau tập trận
(tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)
đọc tiếp...

Cặp tranh: Ông Tơ - Bà Nguyệt


Ông Tơ
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)


Bà Nguyệt
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)

Cặp tranh này mang ý nghĩa chúc tụng, chúc cho trai gái đến tuổi cập kê tìm được ý chung nhân tâm đầu ý hợp, gắn kết bên nhau trọn đời (trong tranh ông Tơ và bà Nguyệt đều cầm trên tay sợi tơ hồng để kết duyên cho hai người); hay nó cũng là món quà mà người này tặng người kia để thể hiện tình cảm của mình đối với đối phương. Tình yêu đôi lứa, sự kết duyên trong ngày xuân sẽ càng trở nên hợp mùa, bởi mùa xuân là mùa chồi non nảy lộc, sinh vật phát triển mạnh mẽ, nên kết duyên vào mùa này cặp trai gái sẽ có cuộc sống sung túc, đủ đầy, tươi vui, con cái đông đúc sau này – theo quan niệm của các cụ ngày xưa.

tranbinhkb

đọc tiếp...

25/07/2010

Tranh lụa Việt Nam lần đầu tiên triển lãm ở Pháp

Ngày 24/7, một cuộc triển lãm tranh lụa Việt Nam đã được khai trương tại Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở Paris, Pháp.

Một bức tranh được trưng bày tại triển lãm. (Ảnh: Lê Hà /TTXVN)

Triển lãm, trưng bày gần 40 bức tranh lụa của các họa sĩ Việt Nam, ngay trong ngày khai trương đã thu hút sự quan tâm đông đảo của bạn bè, nghệ sĩ, hoạ sĩ, giới hoạt động nghệ thuật Việt Nam và Pháp. Đây là cuộc triển lãm đầu tiên về loại hình tranh vẽ này của Việt Nam tại Cộng hòa Pháp.

Triển lãm do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam tổ chức, kết hợp với Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm Việt Nam, Đại sứ quán Việt Nam và Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Paris.

Đây cũng là một trong hàng loạt các hoạt động được tổ chức nhằm tăng cường giới thiệu nền văn hóa “đậm đà bản sắc” của dân tộc Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội.

Với những thành công trong việc sử dụng màu sắc, đường nét một cách hài hòa, các tác phẩm đã tập trung nêu bật những hoạt động trong cuộc sống thường ngày của người dân các dân tộc Việt Nam như trong tác phẩm “Chợ núi” của Hoàng Minh Đức, “Phút thư giãn” của Nguyễn Thị Mang, “Hội Gióng” cuả Nguyễn Nghĩa Duyên…

Triển lãm mở cửa đến hết ngày 30/8..

Nguồn: Vietnam+
đọc tiếp...

Tranh Đông Hồ trên gốm Bát Tràng

Xin giới thiệu với các bạn một số bức tranh Đông Hồ trên chất liệu gốm của làng gốm Bát Tràng - Hà Nội:

Trích một phần tranh Đấu vật

Trích một doạn trong tranh Đám cưới chuột

Tranh Hứng dừa
đọc tiếp...

24/07/2010

Khám phá di tích bên bờ sông Đuống

Trong các dòng sông ở Việt Nam, Đuống có lẽ là dòng sông có mật độ các di tích lịch sử hai bên bờ dày đặc nhất. Sông dài gần 70 cây số, điểm đầu là ngã ba Dâu (huyện Đông Anh, Hà Nội), điểm cuối là ngã ba Mỹ Lộc (huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh) nối sông Hồng với sông Thái Bình.

Phía bờ Bắc sông là nơi phát tích của triều Lý, phía bờ Nam sông - thành Luy Lâu - là thủ phủ suốt gần một ngàn năm Bắc thuộc đã để lại rất nhiều làng cổ, chùa cổ và các di tích, đền thờ hai bên bờ sông.

Hoa nở dọc triền đê

Dạo chơi trên đường đê sông Đuống là thú vui của nhiều người trẻ Hà Nội. Đáng tiếc là con đường đê tuyệt đẹp này chỉ dành cho những du khách đi xe hai bánh chứ không thể phục vụ những đoàn khách trên các xe du lịch lớn.

Triền sông Đuống đẹp nhất vào khoảng tháng 11 - 12, khi nắng thu còn dịu, trời chỉ hơi se lạnh và hoa dại vàng rực nở bạt ngàn. Hai bên sông là cảnh làng mạc Bắc bộ xinh đẹp yên bình với những lớp nhà ngói nâu, lũy tre, đồng lúa…
Một đoạn đường đê

Cứ đi vài cây số, những ai yêu thích kiến trúc cổ và những câu chuyện thần thoại, lịch sử lại sẽ phải dừng chân trước một mái đình cổ, một ngôi chùa tuổi đời gần ngàn năm, một đền thờ hứa hẹn nhiều câu chuyện ly kỳ. Một trong số đó là lăng Kinh Dương Vương cổ kính nằm trên một khuôn viên rộng rãi, thoáng đãng, rợp bóng cây cổ thụ.

Rồi từ đê sông Đuống đi khoảng 300 mét vào thôn Á Lữ là gặp đền thờ Kinh Dương Vương rộng đến 3.000 mét vuông, cảnh quan rất đẹp. Bên trong hậu cung đền có ba ngai thờ: Ngai Kinh Dương Vương đặt ở gian giữa, ngai Lạc Long Quân ở bên phải, ngai Âu Cơ đặt ở bên trái. Ngoài các đồ thờ cúng, đền có lưu giữ 15 đạo sắc phong bằng chữ Hán thời Nguyễn, khẳng định đền thờ Kinh Dương Vương là lăng tẩm đế vương, có một sắc phong của vua Tự Đức năm thứ 33.

Cổng vào khu lăng mộ Kinh Dương Vương

Trong khuôn viên lăng mộ

Từ lăng Kinh Dương Vương đi một đoạn là đến chùa Bút Tháp tòa ngang, dãy dọc thâm nghiêm với nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc cổ độc đáo tài tình, có nhiều tượng Phật và cổ vật quý. Sông Đuống còn đi qua làng tranh Đông Hồ, rồi từ đó rẽ ngang thêm vài cây số là đến đền Bình Ngô - nơi thờ Lạc Long Quân - Âu Cơ.

Một góc chùa Bút Tháp

Sông Đuống chảy hơn nửa đường về phía Đông thì gặp dãy núi Thiên Thai, tạo nên một vùng phong cảnh hữu tình. Từ đây, lại hàng loạt làng thờ An Dương Vương - Mỵ Châu. Đến gần cửa sông Lục Đầu Giang là cụm làng thờ Cao Lỗ Vương: Đông Trung, Bình Than, Văn Than, Kênh Phố, Tiểu Than…

Một buổi chiều dạo chơi hai bên bờ sông Đuống, du khách không chỉ được tận hưởng cảnh đẹp đồng quê, mà còn chiêm nghiệm được bao điều thú vị trước bề dày lịch sử vùng Kinh Bắc - cái nôi của văn hóa Việt Nam.

Cẩm Tú
Nguồn: Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần
đọc tiếp...

18/07/2010

Tranh:Vinh quy bái tổ - kiểu 2


Vinh quy bái tổ - kiểu 2
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)

đọc tiếp...

17/07/2010

Tranh: Lục Vân Tiên gặp Kiều Nguyệt Nga


Lục Vân Tiên gặp Kiều Nguyệt Nga
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)
đọc tiếp...

Tranh: Rước trống


Rước trống
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)

Rước trống
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)
Bức tranh trình bày trong một khung hình chữ nhật, mô tả một đoàn trai tráng đang rước biểu dương sự vui tươi lành mạnh vào dịp hội mùa Xuân với cờ, quạt, trống, bảng hiệu, lọng che…
Tranh dùng ba mầu: đường nét màu đen, trắng hồng và xanh nõn chuối trên nền giấy màu xanh nõn chuối nhạt, toàn diện nhìn rất hòa hợp với nhau. Tấm bảng dẫn đầu với bốn chữ “Trung nam bản xã” giới thiệu cùng mọi người: bọn họ thuộc lớp trai tráng trong làng, bởi chữ “trung” xác định đám thanh niên không còn trẻ (thiếu), nhưng cũng chưa già (lão).
Trong bức tranh này, ta thấy nét vẽ không chồng lên nhau, người này không che lấp người khác. Đó cũng kể như một sự kiện đặc thù, giống như loại tranh thủy mạc của Trung Hoa có cái độc đáo là chẳng cần theo luật “Đường chân trời” xa gần của thị giác mà trông vẫn…”có lí”, thơ mộng.
Bố cục bức tranh rất vững vàng, có khung vuông (bảng tên), có hình tròn (cái trống) gợi ta nghĩ tới sự uyển chuyển hòa hợp vuông tròn của trời đất, gợi nghĩ tới sự tích bánh trưng bánh dầy…
Hình tròn của trống Lưỡng Nghi ở trung tâm bức tranh nhìn thật nổi, thật bắt mắt với đám “trung niên” hai bên nào cờ, nào quạt đang rầm rộ tiến bước theo sau kẻ dẫn đầu câm bảng hiệu hãnh diện giới thiệu họ là đám trung niên trong làng. Bên trên trống có lọng che. Có người nói giữa trống vẽ dấu hiệu Âm Dương, mà Âm Dương là một triết lí, đạo nguyên thủy, “nhất âm nhất dương chi vi đạo” nên phải có lọng che cho uy nghi, trịnh trọng. Người khác không đồng ý nói nếu bàn như vậy thì hơi mông lung, sự thực trống cần có lọng che giản dị là để tránh mưa nắng, bảo vệ cho tang trống khỏi hư hao lúc nắng mưa thôi, vì tiếng trống giữa đám đông là rất cần thiết. Tế lễ, ra trận, múa sư tử chỗ nào cũng cần có trống, nếu để tang trống ướt vì mưa, hoặc rách, lủng lỗ thì hiệu lệnh của trống ban ra không còn trung thực, hào hứng và ý nghĩa nữa
Trong hầu hết tranh Đông Hồ bức nào cũng nhắc nhở với dấu hiệu Âm Dương. Âm Dưong là nguyên thủy của vạn vật, như con người có nam có nữ mà cái nguyên thủy của nam nữ là một đề tài muôn thuở, vô tận…
Đoàn diễn hành mỗi người chỉ đóng một cái khố đơn giản, để lộ phần thân thể khoẻ mạnh, cường tráng của những người đàn ông đã trưởng thành, đang gánh vách gia đình cũng như mọi công việc của làng xóm. Một điểm khác, ta lại thấy người nào trong tranh cũng búi tó củ hành! Điều này làm ta nghĩ đến một quan điểm xưa, người Việt Nam giống người Trung Hoa là thân thể do cha mẹ sinh ra rất quí, không nên cắt bỏ, dù là sợi tóc. Tại đây cũng có quan niệm cũ ta và Tầu khác nhau: Trung Hoa thi kết tóc đuôi sam còn người Việt Nam thì không làm như vậy mà lại búi gọn lên như một củ hành ở sau gáy cho…hách!
Búi tó củ hành,
Đàn anh thiên hạ.
“Hồi xưa trẻ con bất kể nam hay nữ đều được cao trọc đầu hoặc chỉ để ba chòm tóc ngắn ở phía thóp và hai bên mang tai trông giống như những trái đào, cũng đẹp. Lớn lên, chừng 12 hoặc 13 tuổi khi tự mình giữ được sạch sẽ, lúc đó con trai mới bắt đầu búi tó, con gái mới kẹp tóc vấn khăn, làm dáng, để tóc mai, đuôi gà. Kiểu tóc vừa trình bầy theo ông H.Maspero thấy ở xã hội nước ta từ thời thượng cổ, duy có nhà sư hay người làm ăn lam lũ thì mới cạo trọc đầu.” (Việt Nam văn hóa sử cương, Đào Duy Anh). Về sau toàn quốc phát động phong trào Duy Tân, mọi người nhận thấy để búi tó củ hành không hợp vệ sinh, mất thì giờ chăm sóc nên đã hưởng ứng cắt tóc ngắn. Trong số những người cắt tóc ngắn đầu tiên có cả vua Thành Thái “Húi hề! Húi hề! Bỏ cái ngu này! Bỏ cái dại này!” (Theo GS. Hứa Hoành, Sau bức cấm thành nhà Nguyễn).
Nhìn vào tấm bảng dẫn đầu ta thấy bốn chữ “Trung nam bản xã” rất cân đối. Hai thực thể “trung nam”“bản xã” ràng buộc quấn quýt nhau như Âm và Dương vậy. “trung nam” cần “bản xã” để có địa bàn khai triển, hoạt động, hành sử việc đời. Tuổi của trung niên là tuổi hành động, thực hiện trách nhiệm, bổn phận…”Tam thập nhi lập”. Ngược lại, “bản xã” không có đám trung niên rường cột thì cũng khó đứng vững.
Thực vậy, về phương diện cụ thể điều hành, trung nam là thành phần chủ chốt lo toan gánh vác mọi công việc của làng xã. Lớp thiếu niên là những kẻ chưa vào đời, còn các vị bô lão thực sự chỉ giữ nhiệm vụ cố vấn.
Lại nữa, xã hội Việt Nam thời bấy giờ còn chưa chấp nhận người phụ nữ tham gia gánh vác việc làng việc nước cho nên trai tráng (trung niên) là một nỗ lực quan trọng. Ông lí trưởng phải luôn nắm vững, và luôn cập nhật hóa danh sách trung niên trong làng. Ông ta phải biết rõ có bao nhiêu “suất đinh” để điều hành sử dụng khi hữu sự vào những việc như đê điều, canh gác, sửa chữa đường xá… ngõ hầu tạo dựng được một tập thể thanh bình, phồn thịnh, tôn trọng luật lệ trong lũy tre xanh.
Nhưng chuyện này cũng cần được giữ kín bên trong lũy tre xanh, nó là “Bí mật quốc phòng” không nên để các làng lân cận biết rõ, và nhất là không nên để quan huyện tỏ tường. Mặt khác, quan huyện sở tại cũng muốn và cũng cần biết rõ mỗi làng có bao nhiêu suất đinh, nghĩa là quân số thực sự dưới tay được bao nhiêu để khi cần cũng hành xử như lí trưởng nhưng ở một qui mô rộng hơn. Theo Hoàng Văn Chí, phủ huyện thường gọi lí trưởng tới cật vấn việc này, quan lớn thì quát tháo bắt ông lí phải tăng thêm nhân số, lí trưởng thì gãi đầu, gãi tai, kể khổ, kì kèo bớt một thêm hai… cố tình khai bớt càng ít càng có lợi!
tranbinhkb
Tóm tắt một phần trong bài “Tranh Đông Hồ” của Nguyễn Phú Long, nguồn: www.dunglac.org
đọc tiếp...

Tranh: Đấu vật


Đấu vật
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)

Đây là một trong những bức tranh nổi tiếng của làng Đông Hồ, vẽ về cảnh đấu vật của nam giới trong ngày xuân. Các đấu thủ đều đóng khố - theo đúng phong tục của người Việt trong cái rét của mùa xuân để lộ thân hình vạm vỡ, tráng kiện. Nhìn bức tranh, 3 đôi vật đang rất căng thẳng, “bên 8 lạng, người nửa cân”, chưa phân thắng bại. Chúng ta nhận biết được điều này là do ở bút pháp tượng trưng của dòng tranh Đông Hồ. 3 đôi vật này được thể hiện ở 3 mô hình hình học: đôi vật bên trên là hình tam giác cân, đôi vật bên trái là hình thang cân, và bên phải là hình bán nguyệt. Cả 3 mô hình này đều có đáy lớn nằm dưới rất vững chãi chứ không hề thiên lệch, khó đổ. Chính những mô hình hình học vững chãi này đã thể hiện sự ngang bằng sức lực giữa các đô vật đối đầu.


Mô hình hình học của tranh Đấu vật
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

Bên cạnh đó, ta cũng chú ý đến hai tràng pháo ở phía bên trên bức tranh thể hiện không khí mùa xuân. Hai võ sĩ chờ hai bên ngồi hai tay ôn chân để khỏi rét và hình dáng theo mô hình hình chữ nhật đứng không vững thể hiện sự nôn nóng đợi đến lượt mình lên sới.

Đấu vật là một môn võ cổ truyền của Việt Nam xuất hiện từ khi lập quốc và tồn tại gắn liền với hoạt động bảo vệ tổ quốc và lễ hội xuân. Đất Kinh Bắc xưa rất nổi tiếng về môn vật này bởi có nhiều võ sĩ chiến thắng trong các cuộc thi vật do nhà nước phong kiến tổ chức.

tranbinhkb


Photobucket
đọc tiếp...

Tranh: Phúc lộc song toàn


Phúc lộc song toàn
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

đọc tiếp...

Tranh: Đám cưới chuột


Đám cưới chuột
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

Trong dòng tranh Đông Hồ được nhiều người biết tới nhất là bức tranh Đám cưới chuột có từ 500 năm trước - một bức tranh vừa hài hước vừa châm biếm sâu xa. Hài hước ở chỗ, chuột nào lại có chuột đi rước dâu, lấy vợ; nghệ nhân dân gian đã thổi hồn vào bức tranh, nhân hoá con chuột để nó mang dáng dấp con người. Châm biếm ở chỗ chú rể chuột muốn đón dâu phải mang chim, mang cá đến cống cho mèo. Trên bức tranh có hai chữ Nghinh hôn chỉ đám cưới. Con mèo trong bức tranh đại diện cho tầng lớp thống trị xưa. Còn con chuột là hình ảnh của những người nông dân trong xã hội cũ.

Bức tranh không có chú thích gì nhưng nhìn vào ai cũng nhận thấy thâm ý của nghệ nhân dân gian. Chuột ranh ma, tinh quái, đa nghi luôn cảnh giác với loại mèo, kẻ thù không đội trời chung, lại hóm hỉnh châm biếm mèo tham của hối lộ mà quên nhiệm vụ là diệt chuột.


Các bản khắc của tranh Đám cưới chuột
(Nguồn: cinet.vn)

Bức tranh được chia làm hai phần với 12 con chuột và một con mèo. Tầng trên là cảnh chuột dâng lễ cho mèo với bốn con chuột, con đi đầu hai tay dâng lên một con chim, cong người, đuôi gập lại trông vẻ sợ sệt. Con thứ hai xách một con cá đang tiến theo sau, mắt nhìn con mèo vẻ khép nép sợ sệt không kém gì con đầu. Hai con đi cuối thổi kèn nhưng ở tư thế đề phòng bất trắc, khi có chuyện là “vọt” nhanh. Tầng dưới là cảnh đón dâu với tám con chuột. Dẫn đầu là con chuột đực, đầu đội mũ cánh chuồn, mình mặc áo thụng xanh, chân đi hia, ngồi trên lưng con ngựa hồng, quay nhìn về sau vẻ mặt vênh lên tự đắc vì đỗ tiến sĩ vinh qui lại được cưới vợ đẹp. Theo hầu phía sau là một con chuột đen cầm lọng và một con chuột khoang nửa đen nửa trắng cầm biển đề hai chữ “nghinh hôn”. Con cầm lọng vẻ nghiêm trang, con cầm biển thì tinh nghịch luôn quay đầu trở lại nhìn kiệu cô dâu. Bốn con chuột khác thì khiêng kiệu, hai con đi trước nhìn thẳng về phía trước, hai con đi sau thì quay nhìn lại phía sau không biết cố ý cho ta thấy đám rước còn dài hay là trông chừng xem ông mèo có đuổi theo sau không. Cô dâu chuột ngồi trong kiệu cũng vấn khăn, mặc áo gấm xanh nhìn chồng đang cưỡi ngựa đi phía trước vẻ tự hào mãn nguyện. Trong bức tranh hình ảnh đập vào mắt mọi người là con mèo. Con mèo được vẽ ở góc tầng trên phía tay mặt, rất to, oai vệ đang đưa tay ra nhận lễ vật. Và đó là nhân vật chính của bức tranh trào phúng này. Nhìn bức tranh không biết nhà thơ nào đã cho ra đời 4 câu thơ:
Khôn khổn khồn khôn đã có đuôi
Đỗ cao, cưới vợ tiếng rầm trời
Chú mèo vừa mới vênh đầu ngõ
Lễ cả sai quân đệ tới nơi.

Bốn câu thơ ngắn ngủi nhưng đã tỏ rõ cảnh trong bức tranh chuột vinh quy vẻ vang về làng cưới vợ đẹp. Khôn ngoan, tài giỏi nhưng vẫn không thoát khỏi cảnh cúi đầu đút lót cho chú mèo. Việc làm ấy thực ra chẳng có tác dụng gì, bởi lẽ có khi nào mèo lại làm thân với chuột. Nhận của đút lót nhưng khi gặp chuột, mèo vẫn xơi như thường. Chi tiết đó cho ta thấy được cái tài tình của người xưa. Người dân quê Việt Nam xưa sống trong xã hội phong kiến không dám công khai công kích, phản kháng lại bọn quan tham nhũng, ức hiếp dân lành, nên đã mượn bức tranh chuột cưới vợ để gián tiếp lên án bọn quan tham và bày tỏ thái độ của mình. Bức tranh có cả biển, lọng, cân đai, áo, mão, ngựa hồng, kiệu hoa, kèn trống thật linh đình. Nhưng để có được cảnh vui vẻ đó, họ hàng nhà chuột phải đút lót cho mèo. Bức tranh không chỉ đả kích bọn tham quan mà còn phê phán lối thi cử đời Lê, thời Bảo Thái (1721) người nào có tiền đóng vào gọi là “tiền thông kinh” để xin đi thi thì được, không cần phải khảo hạch. Người đi thi rất đông, kẻ làm ruộng, người bán thịt, người đi buôn… một lũ hỗn độn. Trong phòng thi người lật sách ra chép, người thi hộ như phiên chợ đang họp với kẻ mua người bán mặc cả nhau. Kẻ có tài thực sự thì bị đánh rớt, kẻ dốt nát nhưng có tiền đút lót thì được tuyển chọn làm quan. Đã tốn tiền mua chức quan thì phải tìm cách lấy lại. Cuối cùng, chỉ có dân đen là gánh chịu hậu quả, còn bọn quan thì mặc sức cho đầy túi tham.

Nhà thơ Ngô Văn Phú có viết bài thơ cùng tên về bức tranh này:

Đám Cưới Chuột
Thơ: Ngô Văn Phú

Trạng Chuột ơn vua cưới vợ làng,
Kiệu son lộng lẫy lọng hoa vàng!
Nàng dâu xứ chuột chân đi đất,
Ngón nhỏ bùn non vẫn dính chân!

Có con mèo mướp ngồi trên chốc,
Chổm hổm vênh râu, nhận lễ dâng
Chú chuột thổi kèn chân dúm lại,
Con chép đồng quê, vẩy ngấn vàng!

Biết quan mèo có chịu yên?
Có đòi lễ lạt phải nhiều thêm?
Mà bao năm tháng trong tranh Tết,
Tiếng trống vinh qui vẫn rộn ràng.

Ngựa hồng quan trạng rong cương bước,
Vợ chuột chưa hay mình đã quan.
Một bước nên bà là thế đấy!
Khối "em" chuột khác nghĩ mà thèm!

Chao ơi, thi cử xưa là thế
Đời trước, đời sau vẫn ước mơ
Hoa tay nghệ sĩ, người không vẽ,
Vẽ Chuột nhung nhăng đến tận giờ.

Những bài thơ khác về bức tranh này:

Đám Cưới Chuột

Thơ: Nắng Xuân

Bạc nén, vàng thoi, ngọc kết tràng
Ngồi trên kiệu gấm, dát hoa vàng
Vu qui võng đỏ, vang chiêng trống
Bái tổ lọng xanh, chói bảng vàng
Tí lão bao đời làm việc thiện
Thử bà mấy kiếp đốt đèn nhang
Mẹ cha nở mặt cùng thôn xóm
Đại tiểu đăng khoa, thiệt rỡ ràng.

Đám cưới chuột
Thơ: Thiện Ân (Họa y vận của Nắng Xuân)

Mậu tí tân niên thiệt rỡ ràng,
Vinh qui bái tổ chuột hai hàng.
Đứa chù kèn đấy dài hơi thổi,
Thằng nhắt bảng kia nặng cộc mang.
Võng đỏ cống nằm trông chỉnh chệ,
Lọng xanh lang tiếp ngước nghênh ngang.
Ngựa đầu thử sức tiên phong nhỉ?
Oai vệ trên lưng chú chũi làng.

Không những đi vào trong thơ, bức tranh Đám cưới chuột này còn là cảm hứng cho một bài hát cùng tên đang nổi trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, nội dung tư tưởng của bài hát này không đi trình bày lại ý nghĩa của bức tranh mà nó đã khai thác ở khía cạnh khác.

Nghe bài hát: Đám cưới chuột trong chương trình Bài Hát Việt 2006 – Sáng tác và Trình bày: Ban nhạc Gạt Tàn Đầy.


tranbinhkb
đọc tiếp...

Tranh: Hiếu học

Hiếu học (Tranh nhà ngệ nhân Nguyễn Đăng Chế)


Hiếu học (Tranh nhà ngệ nhân Nguyễn Hữu Sam)

Bức tranh miêu tả cảnh một em bé vừa chăn trâu vừa học bài. Bức tranh khen ngợi em bé chăm chỉ học hành, qua đó cũng nhằm khuyến khích con trẻ học hành nỗ lực để mong rạng danh cho gia đình, dòng họ. Bởi vậy, ngày xưa, bức tranh này thường được các bậc cha mẹ mua về để dán ngay trên chỗ con cháu mình đèn sách.

Tranh có ba chữ Hán chú giải là “Như quải giác” – nghĩa là sừng trâu treo sách đi học. Trên cuốn vở cua chú bé có câu câu đối:

“Hoành ngưu bối
Tín khẩu suy”

Dịch nghĩa:

Sách để ngang lưng trâu
Miệng huyết sáo học bài


tranbinhkb

đọc tiếp...

Tranh: Đinh Tiên Hoàng cờ lau tập trận


Đinh Tiên Hoàng cờ lau tập trận
(tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)




Đinh Tiên Hoàng cờ lau tập trận
(tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)

đọc tiếp...

Tranh: Thiên hạ thái bình


Thiên hạn thái bình - tranh do nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam in.


Thiên hạn thái bình - tranh do nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế in.


Thiên hạn thái bình - tranh do nhà họa sĩ Nguyễn Đăng Giáp, con trai cố nghệ nhân Nguyễn Đăng Khiêm in.

đọc tiếp...

Tranh: Phúc lộc song toàn


Phúc lộc song toàn
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

đọc tiếp...

Tranh: Chuột vinh quy

Chuột vinh quy
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)

Trong tranh này, chuột tuy đỗ tiến sĩ (hai chữ này được đề trên tấm biển) vinh qui về làng (hai chữ Vinh quy trên lá cờ) vẫn phải cống nạp cho mèo (ba chữ Miêu thủ lễ). Có người cho rằng, bức tranh này nói tới việc phép vua thua lệ làng trong xã hội xưa.

tranbinhkb

đọc tiếp...

Tranh: Múa rồng


Múa rồng
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)


Tranh thể hiện sự tươi vui ngày tết. Rồng trong truyền thuyết người Việt là con vật hiền lành (khác với con rồng của người châu Âu), đem lại mưa nắng, nhiều điều tốt đẹp (ngày xưa vua chúa thường ví như Rồng và mơ thấy Rồng) múa rồng để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, đời sống ấm no hạnh phúc.

tranbinhkb

đọc tiếp...

Tranh: Anh em học bài


Anh em học bài
(tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

đọc tiếp...

Tranh: Trần Hưng Đạo


Trần Hưng Đạo
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)

đọc tiếp...

Tranh: Chuột rước rồng


Chuột rước rồng
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)


Hai chữ Rước rồng xuất hiện trên bức tranh đi liền với hình ảnh hội hè vui vẻ. Có thể nói, chỉ với hình ảnh con chuột nhưng người nghệ nhân dân gian bằng óc tưởng tượng sáng tạo, độc đáo của mình đã vẽ nên bức tranh Chuột rước rồng nói riêng và ba bức tranh chuột nói chung hết sức đặc sắc, sinh động.


tranbinhkb
đọc tiếp...

Tranh: Em bé cưỡi mèo


Em bé cưỡi mèo - tranh có màu do nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế in.


Em bé cưỡi mèo - tranh đen trắng do nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam in.

đọc tiếp...

15/07/2010

Tranh: Vinh quy bái tổ - kiểu 2


Vinh quy bái tổ (kiểu 2)
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)
đọc tiếp...

Tranh: Ngô Vương Quyền


Ngô Vương Quyền (Ngô Quyền)
(tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)
đọc tiếp...

Tranh: Võ trường


Võ trường
(tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)


Võ trường
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế)
đọc tiếp...

Tranh: Vinh quy bái tổ - kiểu 1


Vinh quy bái tổ (kiểu 1)
(Tranh nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam)
đọc tiếp...

Mẫu thiết kế phòng trưng bày tranh Đông Hồ

Đây là mẫu thiết kế phòng trưng bày tranh Đông Hồ Maudantoc.com của Goaltime - một người bạn của tôi - hiện đang học ở FPT - Arena. Trước tiên, xin cảm ơn Goaltime vì sự yêu mến của bạn đối với dòng tranh dân gian mà tôi đang giới thiệu này. Sau thì xin mời các bạn cùng xem qua và góp ý cho chúng tôi.
Thiết kế: Goaltime
đọc tiếp...
 

Maudantoc.com trên Facebook
Theo đuôi Maudantoc.com trên Twitter
Maudantoc.com trên Yahoo! Pulse

free counters
Blog Màu dân tộc | Mua tranh Đông Hồ | Thỏa thuận sử dụng nội dung | Sơ đồ trang | Góc báo chí | Liên hệ

Bản quyền 2009 - 2011 Boong bảo lưu mọi quyền.