27/06/2009

Nghệ nhân Đông Hồ vẽ gần trăm bức tranh

Lẽ ra loạt bài “Những bất ngờ về một dòng tranh dân gian” đã kết thúc số hôm qua, nhưng chúng tôi phải kéo dài thêm một kỳ nữa về một tác giả tranh Đông Hồ, dù tên tuổi đã được nhắc đến đây đó, nhưng di sản tranh ông để lại thì hầu như chưa có trên thị trường. Đó là nghệ nhân Nguyễn Đăng Khiêm (đã mất năm 2002).

>> Những cải tiến về hình thức tranh Đông Hồ
>> Tranh Đông Hồ - trang sách quý cho con cháu
>> Nghệ nhân Đông Hồ - chiến sĩ mặt trận văn hóa
>> Tranh Đông Hồ thời "văn minh tiến bộ"
>> "Cày xới" lại trên "mảnh ruộng" Đông Hồ"
>> Triển lãm "Cập Nhật" ăn theo tranh Đông Hồ
>> Triển lãm "Cập nhật" làm mới tranh Đông Hồ?
Nghệ nhân Nguyễn Đăng Khiêm qua nét vẽ của con trai.

Nếu như nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế sáng tác khoảng 15 bức tranh Đông Hồ thì ông Khiêm đã sáng tác tới gần trăm bức tranh (chưa có ai thống kê chính xác) mang phong cách Đông Hồ. Sở dĩ tôi dùng chữ “mang phong cách” vì trong đó chỉ có một số ít tranh có bản khắc gỗ, còn lại chủ yếu là vẽ tay, và những bức thuộc loại tranh trổ giấy. Nhưng đúng như con trai ông tự nhận: “Bố tôi là một tâm hồn Đông Hồ, ông ấy vẫn tiếp nối các sáng tác mà tổ tiên để lại”.

Đánh Mỹ trong tranh Đông Hồ
Bước vào nhà ông Nguyễn Đăng Giáp, con trai nghệ nhân Nguyễn Đăng Khiêm, người ta phải chú ý ngay đến bộ tứ bình Sơn Tinh Thủy Tinh treo trang trọng ở gian giữa. Bộ tranh khổ lớn, mô tả lại cảnh cầu hôn, chiến trận giữa sơn thần và thủy quái, cảnh ca khúc khải hoàn của Sơn Tinh với người đẹp Mị Nương… Bố cục tranh dàn đều trên một mặt phẳng, không tuân theo luật “viễn, cận”, sử dụng nhiều nét tròn, màu sắc sặc sỡ, đúng đặc trưng của tranh Đông Hồ, nhưng là bản vẽ tay, với những nét vẽ hết sức tinh xảo và công phu. Bức tứ bình này khiến các họa sĩ sành về mỹ thuật dân gian như Phan Cẩm Thượng, Đức Hòa… phải vị nể.

Khách càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy chủ nhà vào nhà trong bê ra các bản khắc gỗ, một tá tranh cuộn và hàng chồng tranh giấy dó dày cộp, bày ra giữa nhà. Tất cả đều là tranh do bố ông sáng tác trong suốt cuộc đời gần 90 năm (1914-2002).

Bản khắc gỗ Tuổi cao trí càng cao, không có bản in nào (trừ bản in giấy điệp để ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam), nhưng nhìn vào đó (hình khắc lộn ngược), tôi cũng thấy được phần nào cảnh các lão dân quân Hoằng Hóa (Thanh Hóa) bắn rơi máy bay Mỹ bằng súng trường. Số hiệu máy bay vẽ trong tranh là 2400. Vậy là chiến công oanh liệt này chẳng những đi vào lịch sử mà còn lặng lẽ đi vào… nghệ thuật dân gian. Và sau hơn 40 năm đến hôm nay, bản khắc bằng gỗ thừng mực (một loại gỗ kém hơn so với gỗ thị) đã bị rạn một chút ở giữa…


Bức Hà Nội - Huế - Sài Gòn đánh Mỹ
Nghe lời ông Giáp kể, tôi hình dung ra “cơ chế” để “chuyển hóa” các sự kiện thời chống Mỹ hào hùng vào “nghệ thuật dân gian” như sau: ban ngày ông Khiêm đi làm Nhà nước - cũng là khắc tranh, phục chế tranh dân gian ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam – ban đêm, ông về ngồi nghe tin tức thời sự, ta thắng, địch thua…, thế rồi cặm cụi ngồi vẽ. Con trai ông cũng chưa thống kê được ông đã vẽ bao nhiêu bức, tới con số 100 thì không biết, nhưng khoảng dăm chục bức là còn giữ lại được đến nay. Một bản khắc gỗ còn giữ lại được là bức Hà Nội, Huế, Sài Gòn đánh Mỹ vẽ năm 1968 ngay trong năm Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Với lối tư duy hình họa đặc trưng của Đông Hồ, người xem có thể thấy không khí chiến trận cả ba miền, sinh động, cụ thể, bám sát sự thật lịch sử, tất cả đã được thể hiện trên bản khắc gỗ khổ chỉ nhỏ như quyển vở học sinh (khoảng 20x30cm)… Cũng như “truyền thống” các tranh Đông Hồ thời chống Pháp, chống Mỹ, ông khắc thêm câu thơ Bác Hồ vào tranh “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/ Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà” để tăng hiệu quả tuyên truyền...

Bổ khuyết cho bộ Tứ bình của dân gian
Hình như bên cạnh công việc hàng ngày là… vẽ theo thời sự để được triển lãm, in báo Thiếu niên Tiền phong, ông Khiêm còn lặng lẽ chăm chút cho những bộ tứ bình lớn, công phu mà bộ Sơn Tinh - Thủy Tinh chỉ là một. Với một nghệ nhân dân gian như ông, thì các câu chuyện truyền thuyết, dân gian đã thấm đẫm trong đầu, cứ thế mà vẽ ra thôi. Ông vẽ Quan Âm Thị kính, 4 bức được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật VN. Bức tranh theo phong cách Đông Hồ này còn đoạt HCĐ Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc năm 1985 (mà nay ở nhà chỉ còn bản hình phác thảo). Ông vẽ Mị Châu - Trọng Thủy cũng là tranh tứ bình, với cảnh lầu các nguy nga, đặc biệt có cảnh xác Mị Châu dưới nước, Trọng Thủy đứng trên bờ trông rất thương tâm. Có vẻ như ông hiện nhiều cảm xúc của cá nhân mình với câu chuyện này hơn là việc “mô phỏng” lại nó bằng 4 bức tranh theo phong cách dân gian.

Bộ Tứ bình “Sơn Tinh- Thủy tinh”
Phác thảo bức Tố nữ
Tranh Đông Hồ vốn đã có những mẫu “Xuân Hạ Thu Đông”, ông lại sáng tác thêm một Xuân Hạ Thu Đông mới với cảnh voi, hươu, nai rất ngộ nghĩnh.

Một câu chuyện rất lý thú mà Giáp kể lại, ấy là khi Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam căn cứ vào tư liệu của người Pháp để khôi phục lại bộ tứ bình Tố nữ (vẽ các cô gái ngồi đánh đàn), thì công việc bị tắc lại, vì người Pháp chỉ chụp được có 3 bức, vậy là bộ Tứ bình còn thiếu mất một cô. Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật VN bấy giờ là ông Nguyễn Văn Y đã giao nhiệm vụ cho ông Khiêm là phải “sáng tác” thêm cô “Tố nữ” thứ 4 cho bộ Tứ bình được hoàn thiện.

Tuân lệnh thủ trưởng, ông Khiêm đã cặm cụi ngồi vẽ cả chục mẫu Tố nữ với các tư thế khác nhau (nay bản thảo vẫn còn)… để Hội đồng nghệ thuật của Bảo tàng góp ý, chỉnh sửa sao cho “ăn nhập” được với 3 cô còn lại của dân gian. Cuối cùng bức Tố nữ cầm nhị đã được chọn để “ghép” với 3 tố nữ của dân gian, thành bộ tứ hoàn hảo. Theo ông Giáp, bộ Tứ bình Tố nữ ở Bảo tàng bây giờ chính là một sự kết hợp giữa bố ông và… dân gian, mà nay bộ Tố nữ ấy đã quay trả về “dân gian” và có in bán trên thị trường.

Không muốn in sao hàng loạt
Lúc sinh thời ông Khiêm, tôi không được gặp, nhưng có lẽ hiếm có nghệ nhân nào mà gia đình, dòng họ ông lại được người trong giới nói đến với thập phần kính trọng như vậy. Hồi 80 tuổi, ông Khiêm vẫn thong dong đạp xe từ Hà Nội về Đông Hồ, 30-40 cây số, và suýt soát đến tuổi 90, ông vẫn uống rượu tì tì, nửa lít một lúc. Nghe kể về ông Khiêm, tôi thấy được cốt cách điển hình của một nghệ nhân - nghệ sĩ. Tranh ông không những có mặt ở Bảo tàng Mỹ thuật VN mà còn có 9 bức được Bảo tàng Phương Đông (Liên Xô cũ) mua.

Ông Nguyễn Đăng Giáp bên các bản khắc gỗ tranh của cha còn giữ lại được
Tranh Đông Hồ đang có giá, những mẫu mới do ông Khiêm sáng tác cũng không phải là kém hấp dẫn, nhất là đối với những du khách Tây muốn tìm… ký ức về chiến tranh Việt Nam. Những bức tranh này chỉ cần đưa đi khắc gỗ - một việc không quá khó, các “nghệ nhân” phố con dấu Tô Tịch cũng có thể làm ngay được - sau đó áp dụng kỹ thuật Đông Hồ in trên giấy điệp là đã thành những mẫu tranh Đông Hồ “thứ thiệt”. Thế nhưng, ông Giáp chỉ giữ tranh của bố như một kỉ niệm của gia đình, không muốn đưa đi sản xuất hàng loạt vì một lý do đơn giản: “Tôi khắc in sợ làm cho tranh của bố tôi xấu đi - ông tâm sự một cách thực thà – để 10-15 năm khi cháu tôi (Nguyễn Đăng Khoa) có đủ tiềm lực thì lúc ấy mới làm”(khắc gỗ, triển lãm…).

Nguyễn Mỹ
Nguồn: TT&VH
đọc tiếp...

26/06/2009

Tìm lại các tác giả tranh Đông Hồ

Một dòng tranh dân gian có tuổi vài trăm năm không hề thuộc về quá khứ, mà vẫn vươn lên bám sát thời cuộc, để lại những thành tựu nhất định trong mỗi thời kỳ, từ thời Pháp thuộc đến thời chống Pháp và chống Mỹ. Các bức tranh Đông Hồ thời cận - hiện đại này ít nhiều đã ghi đậm dấu ấn cá nhân của những người sáng tác chúng - những nghệ nhân không còn khuyết danh nữa, mà đã có tên tuổi hẳn hoi. Để hiểu thêm về vấn đề này phóng viên TT&VH đã có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Đăng Chế - một nghệ nhân không những đang làm sống dậy nghề tranh Đông Hồ mà còn chính là người đã sáng tác nhiều bức tranh Đông Hồ thời chống Mỹ.

>> Những cải tiến về hình thức tranh Đông Hồ
>> Tranh Đông Hồ - trang sách quý cho con cháu
>> Nghệ nhân Đông Hồ - chiến sĩ mặt trận văn hóa
>> Tranh Đông Hồ thời "văn minh tiến bộ"
>> "Cày xới" lại trên "mảnh ruộng" Đông Hồ"
>> Triển lãm "Cập Nhật" ăn theo tranh Đông Hồ
>> Triển lãm "Cập nhật" làm mới tranh Đông Hồ?

* Thưa ông, thời chống Mỹ ông đã sáng tác bao nhiêu bức tranh?

- Tôi vẽ được tất cả khoảng 15 bức tranh, như: Đổi công hợp tác, Hợp tác xã mua bán, rồi Cải tiến nông cụ... và có cả những bức tranh vẽ về thời gian chống chiến tranh phá hoại của địch. Trước đây tôi có in một loạt trong số những mẫu tranh đó nhưng đến bây giờ thì tôi chỉ còn có 3 bức thôi, đó là: Bác Hồ với thiếu nhi, Phụ nữ ba đảm đang và Không cho chúng nó thoát. Tôi thấy ba bức tranh này gắn với vấn đề lịch sử nhất.

* Bức tranh ông tâm đắc nhất là bức tranh nào, thưa ông?

- Tôi tâm đắc nhất là bức Không cho chúng nó thoát. Năm 1972 trong 12 ngày đêm Mỹ ném bom Hà Nội thì 3 đêm đầu tiên tôi có mặt ở đó. Tôi đã được tận mắt chứng kiến bộ đội ta dùng pháo bắn mấy bay địch và thấy được chiến tranh gay go ác liệt đến thế nào. Lúc đó tôi mới nghĩ mình nên vẽ một cái tranh để khắc họa những cảnh tượng mà mình đã tận mắt thấy. Sau 3 ngày ở Hà Nội đến ngày thứ 4 tôi về nơi sơ tán (Đoan Hùng, Phú Thọ), sau đó tôi vẽ bức tranh và lấy tên là Không cho chúng nó thoát với một thực tế là Hà Nội bắt được những giặc lái Mỹ. Khi sáng tác tôi có một ý nghĩ là làm thế nào để diễn đạt ý toàn dân tham gia đánh giặc, trong đó có ông già, bà già, có phụ nữ, có trẻ em đại khái nội dung nó là như thế. Khi ta bắn rơi máy bay Mỹ thì có cả 4 thế hệ già trẻ gái trai ra bắt “nó”.

* Khi hòa bình lập lại ông có sáng tác mẫu tranh nào nữa không?

- Sau khi hòa bình lập lại thì tôi chưa sáng tác thêm mẫu tranh nào cả mà chủ yếu đi sưu tầm và phục chế lại những mẫu tranh cũ ngày xưa.

* Người ta đã nhắc đến khá nhiều về các thế hệ nghệ nhân tranh Đông Hồ như cụ Vương Trí Lung, cụ Trần Nhật Tấn, ông Sần, ông Khiêm, xin hỏi các mẫu tranh của các ông này còn nhiều không?

- Trong nhiều năm miệt mài sưu tầm và phục chế thì tôi cũng đã có trong tay những mẫu tranh của cụ Vương Trí Lung và của ông Sần, còn ông Khiêm thì tôi chưa có cái nào. Trước Cách mạng tháng Tám thì ở Đông Hồ có 17 dòng họ làm tranh mà dòng họ của tôi là một, nhưng sau năm 1945 thì hầu như không làm tranh nữa, đến giờ thì chỉ còn hai nhà làm tranh. Và tôi khẳng định là không ai biết tranh Đông Hồ có bao nhiêu thể loại, cả đến các cụ trong làng cũng không thể nhớ rõ được bao nhiêu.Tính đến bây giờ thì tôi có khoảng 180 mẫu tranh dân gian Đông Hồ thuộc cả mẫu tôi sáng tác và mẫu tôi phục chế lại.
Ông Nguyễn Đăng Chế - người đã sáng tác khoảng 15 bức tranh Đông Hồ

* Ngoài những mẫu tranh cổ còn có rất nhiều những mẫu tranh Đông Hồ khác mang dấu ấn cá nhân của ông. Vậy ông có nghĩ mình là một nghệ sĩ không?

- Đối với tranh dân gian, những nghệ nhân thường chưa tốt nghiệp đại học mỹ thuật, mà thường chỉ là những ông đồ dạy chữ Hán. Bản thân tôi cũng không dám nhận mình là nghệ sĩ. Tôi chỉ biết là trong họ nhà tôi có bề dày lịch sử làm tranh, thì bây giờ tôi phải quyết tâm gìn giữ.

* Ông có dự định gì trong tương lai?

- Tôi dự định sẽ làm chỗ này thành một quần thể du lịch sinh thái, người ta đến đây có thể xem, chơi, thậm chí ở lại, sinh hoạt, ăn uống... Ở vùng Bắc Ninh này có quan họ và tôi muốn mọi người đến đây vừa có thể xem tranh Đông Hồ vừa có thể nghe hát quan họ. Nhưng bây giờ tôi chưa có tiền, theo dự tính của tôi nếu thực hiện thì mất khoảng 10 tỷ đồng.

* Xin cảm ơn và chúc ông thành công!

Nguyễn Khắc Trường (thực hiện)
Nguồn: TT&VH
đọc tiếp...

25/06/2009

Những cải tiến về hình thức tranh Đông Hồ

Mở cửa giao lưu với thế giới không chỉ để cứu nền kinh tế, mà còn cứu nhiều ngành nghề khác, trong đó có nghề làm tranh Đông Hồ. Theo thời cuộc mà tranh Đông Hồ cũng có những biến đổi, chủ yếu là về mặt hình thức.

>> Tranh Đông Hồ - trang sách quý cho con cháu
>> Nghệ nhân Đông Hồ - chiến sĩ mặt trận văn hóa
>> Tranh Đông Hồ thời "văn minh tiến bộ"
>> "Cày xới" lại trên "mảnh ruộng" Đông Hồ"
>> Triển lãm "Cập Nhật" ăn theo tranh Đông Hồ
>> Triển lãm "Cập nhật" làm mới tranh Đông Hồ?

Đông Hồ thời hội nhập

 Một trong 4 bản khắc gỗ tranh Xuân hạ thu đôn
Những năm cuối thập kỉ 80 thế kỉ trước, khi khối SEP và Liên Xô tan rã, con đường mòn nhỏ đưa tranh Đông Hồ đi sang thị trường Âu châu trong đó có thị trường Cộng hòa Dân chủ Đức lớn nhất của Xunhasaba bị gián đoạn; tổ làm tranh Đông Hồ do nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam làm tổ trưởng cũng dần dà bị giải tán theo. Những bộ ván khắc được các nghệ nhân gói ghém đưa cất lên gác xép. Người Hồ lúc đó chỉ còn nghề mã, mà nghề đó cũng không dám công khai tràn lan, ai biết việc nhà nấy.

Vào những năm đó, NXB Văn hóa Dân tộc thành lập tổ làm văn hóa phẩm để có thu nhập thêm vào đồng lương, đã nghĩ đến tranh Đông Hồ thu nhỏ làm bưu thiếp. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế người làng Hồ lúc đó là cán bộ của NXB, ông hăng hái bắt tay vào chuyện tìm lại hơi thở cho tranh Đông Hồ. Thấy mặt hàng mới bán được, ông lặng lẽ nghĩ ngay đến chyện sưu tầm phục dựng lại nghề tranh.

Ông Chế đã đến những nhà không theo nghề tranh nữa thu mua lại ván cũ. Những ván quá cũ nát không khai thác được nữa ông cho phục chế. Những mẫu in cũ ông đem đi khắc lại. Nhà nghiên cứu tranh dân gian duy nhất lúc ấy là ông Nguyễn Bá Vân của Viện Nghệ thuật còn giữ một số bản in nét những bộ tứ bình, thấy ông Chế nhiệt thành, ông đem ra tặng lại để mong ông có thêm những mẫu tranh đã gần như thất truyền. Bây giờ làng Hồ còn gia đình ông Nguyễn Đăng Chế và ông Nguyễn Hữu Sam là hai nghệ nhân đã sắp lục tuần đại khánh cả rồi nhưng vẫn kiên nhẫn giữ lấy tổ nghề. Tranh Đông Hồ lại được hàng vạn bản hàng năm trên các sạp hàng du lịch. Người Nhật đã đặt hàng với ông Chế mỗi năm vài ngàn bộ.

Tô màu như tranh Hàng Trống
Đi với thời cuộc, tranh Đông Hồ cũng lấy phục vụ thị trường làm động lực phát triển. Ông Chế về hưu và hằng ngày lại miệt mài trở về với ván khắc. Vẫn giữ thói quen năng động của người thợ dân gian theo sát thời cuộc và nhu cầu của thị trường ông tiếp tục lần mò tạo ra sự thay đổi cho loại mặt hàng này.
Tranh người nông dân và con trâu - ván nét đen
Những tranh tứ bình Xuân - Hạ - Thu - Đông ông đã thử nghiệm với cách làm mới. Bình thường thì tranh Đông Hồ in các bản màu trước (in theo kiểu đóng dấu từ ván khắc), từ màu nhẹ đến màu đậm (với bức tranh có nhiều màu nhiều ván thì có khi phải in tới 6-7 lần). Sau khi in màu xong, thì in bản nét sau cùng là xong bức tranh. Với thử nghiệm mới, ông Chế chỉ in bản nét, sau đó cản bóng bằng mực nho bắt chước lối làm tranh Hàng Trống, vậy là chỉ còn đen trắng và độ ghi nhẹ, tạo nên vẻ thủy mặc. Cách này theo tôi là hiệu quả vì tạo nên sự trang nhã, thanh đạm khác với vẻ sặc sỡ của những bức tranh Đông Hồ in bình thường. Loại tranh này người Nhật và Pháp rất thích, nên ông Chế xuất sang các nước đó rất nhiều.

“Nới rộng” khuôn khổ các bức tranh
Có những du khách cầu kì muốn bức tranh Đông Hồ to hơn gấp đôi gấp ba bình thường, ông cho phóng bản nét bức tranh to ra rồi can nét xuống mặt tờ giấy điệp rồi tô màu bằng tay theo mẫu. Bởi lẽ, ván khắc tranh Đông Hồ có khổ cố định và tương đối nhỏ (khoảng 30x40cm), nên không thể in ra bức tranh với khổ lớn hơn. Với sự năng động này, mỗi bức tranh Đông Hồ khổ to, ông Chế có thể bán được hàng trăm ngàn, gấp nhiều lần so với khổ thường.
Hai Bà Trưng khởi nghĩa (Vẽ tay khổ lớn, 50x60)
Ông lại cho khắc ván bản nét một số bức tranh với đủ kích cỡ từ to bằng nguyên bản đến mi ni và bán luôn cả bản khắc cho khách yêu thích. Những bộ tranh đôi, những bộ tứ bình in xong ông cho bồi lên mành tăm trục trúc khổ 40x100 trông rất xinh xắn, người mua cuộn tròn lại rất tiện lợi, mà mắt tranh lại được giữ gìn tốt.
Tranh tứ bình – in nét rồi cán bóng bằng mực Nho, bồi trên mành tăm (40x100 mỗi bức)
Những cải tiến về hình thức ấy luôn được thay đổi để bắt nhịp kịp với nhu cầu thị trường nên đã cải thiện được giá cả. Cách đây dăm bảy năm, ông làm hàng tranh trục tứ bình đen trắng và tranh chữ xuất cho người Nhật, năm cũng được vài ba ngàn bộ. Từ nhiều năm nay Đông Hồ thành điểm đến cho nhiều tua du lịch văn hóa. Ngoài ông Nguyễn Đăng Chế ra, gia đình ông Nguyễn Hữu Sam cũng vẫn tiếp tục nghề tranh. Còn nghệ nhân trẻ Trần Nhật Sử cũng khi làm khi bỏ theo nhịp đập của thị trường. Tuy số nghệ nhân theo nghề tổ còn ít nhưng số lượng tiêu thụ hàng năm là rất đáng kể nên chắc chắn dòng tranh Đông Hồ dù không sầm uất như xưa nhưng không thể bị diệt vong vì sự nuôi nấng của thị trường du lịch và cái giá vẫn rất bình dân của nó.

Cứ nhìn các ván khắc hôm nay thì biết, dòng máu của nghệ nhân làng Hồ với nghiệp làm tranh in chưa thể dứt mà còn tinh xảo hơn cả thế hệ cha anh.

“Ăn theo” tranh Đông Hồ
Ngoài cách “cày xới lại trên mảnh ruộng Đông Hồ” của họa sĩ Phạm Huy Thông (“nhại” tranh Đông Hồ để phản ánh các vấn đề thời đại); còn có một số hình thức độc đáo khai thác sức hấp dẫn của tranh Đông Hồ như:

* “Vẽ” tranh Đông Hồ bằng những cánh bướm. Đó là các làm của GS. TS. Bùi Công Hiển, Giám đốc trung tâm nghiên cứu côn trùng học, Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ông dùng cánh, chân những con bướm để tạo thành những bức tranh Đông Hồ như: “Cá chép vọng nguyệt”, “Đánh ghen” hay “Vinh hoa”…

* Đưa tranh Đông Hồ lên chất liệu đồng. Đó là cách làm của một số nghệ nhân làng đúc đồng Đại Bái. Các bức “Đám cưới chuột”, “Chăn trâu thổi sáo”, “Hứng dừa”, “đánh ghen”… được đúc nổi và điểm nét trên những tấm đồng tạo vẻ đẹp độc đáo.
Đỗ Đức (họa sĩ)
Nguồn: TT&VH
đọc tiếp...

24/06/2009

Tranh Đông Hồ - trang sách quý cho con cháu

Dòng tranh dân gian này một mặt luôn bám sát thời cuộc, thời Pháp thuộc thì đả kích các biến tướng nhiễu nhương của phong trào Âu hóa; thời chống Pháp, chống Mỹ thì các nghệ nhân Đông Hồ chính là các chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. Bây giờ ta quay lại câu chuyện những bức tranh Đông Hồ buổi đầu. Điểm qua một số bức tranh có nội dung nhắn gửi về đạo lý như những trang sách quý của người xưa để lại cho con cháu.

>> Nghệ nhân Đông Hồ - chiến sĩ mặt trận văn hóa
>> Tranh Đông Hồ thời "văn minh tiến bộ"
>> "Cày xới" lại trên "mảnh ruộng" Đông Hồ"
>> Triển lãm "Cập Nhật" ăn theo tranh Đông Hồ
>> Triển lãm "Cập nhật" làm mới tranh Đông Hồ? 

Vì sao tranh Nhân nghĩa - Lễ tri lại vẽ ôm cóc, ôm rùa?
Ta hãy cùng nhau xem bộ tranh đôi: Nhân nghĩa - Lễ tri. Tranh Nhân nghĩa vẽ bé ôm cóc. Đây là tranh thuộc thể loại chúc tụng. Cháu bé trong tranh ôm cóc là ôm cái ý chí của cậu ông Trời, người ta mong cháu lớn lên có cái gan của cóc, có cái ý chí, cái uy và cái nhân nghĩa của cóc.
Tranh Nhân nghĩa
Có một chuyện thú vị vừa diễn ra là vào tháng 4/2009 vừa qua, ở Bordeaux tôi tặng cho một chị người Pháp bức tranh trên. Chị cầm bức tranh ngần ngại rồi nói với phiên dịch muốn đổi bức khác... Tôi hiểu chị ấy ghê con cóc bẩn, tại sao lại cho em bé ôm con vật như vậy. Nhưng khi nghe tôi giải thích xong về bức tranh thì chị ấy ôm bức tranh vào ngực, biểu lộ thái độ trìu mến rồi tươi tắn trả lời: Không đổi nữa, sao lại có thể xa rời một nhân cách lớn như vậy. Bài học về giá trị nhân cách đã thấm vào người ở xa chúng ta vạn dặm từ một bức tranh khiến tôi thấy rất vui.

Bức Lễ tri lại vẽ bé gái ôm con rùa. Rùa là con vật sống lâu, được coi là linh vật. Rùa nằm trong tứ linh: Long - Li - Qui - Phượng, là biểu tượng bền vững ngàn năm. Lễ là lễ nghĩa, tri là hiểu biết. Có hai thứ đó sẽ có sự bền vững vĩnh hằng. Đó là lời giáo huấn nhẹ nhàng mà sâu sắc. Nhưng tại sao con rùa lại trong tay bé gái? Chúng ta đều biết dân gian có câu “Phúc đức tại mẫu”, người mẹ là người bú mớm cho con lớn lên và dạy cho con đạo lý đầu tiên ở đời. Người mẹ sinh con đẻ cái nối dài cuộc sống của xã hội. Vai trò và trách nhiệm tự nhiên của người mẹ phương Đông rất lớn. Khi nói chuyện này ở Pháp, nhiều phụ nữ lắc đầu thán phục. Ở phương Tây vai trò người mẹ không giống như thế. Hai bức Nhân nghĩaLễ tri là sự cân xứng cho một xã hội lành mạnh.

Những bài học thấm thía
Bức tranh thầy đồ cóc: Lão oa giảng độc lại mang một ý nghĩa khác. Trong tranh, ông thầy cóc chễm chệ trên bàn trà có nghiên bút mực, có ống điếu, đĩa hoa quả và được bóng tùng che mát. Rõ ràng ông thầy ở vị trí cao sang tôn kính. Bên dưới là lũ cóc, đứa trả bài, bê ấm trà lên cho thầy, đứa bị đánh đòn vì phạm lỗi. Trưởng tràng (lớp trưởng) thì đi thu bài, mỗi người mỗi việc.
Thầy đồ cóc - hoàn toàn không phải tranh châm biếm
Đây không phải là bức tranh lớp học mà là tranh dạy về đạo lý của sự học. Muốn học chữ phải học trước sự tôn trọng tuyệt đối thầy, phải phục vụ thầy, chịu sự quản lý của thầy. Đó là tôn ti trật tự của đạo học phong kiến ngày xưa. Trước đây có người giải thích rằng đây là bức tranh biếm, chế giễu cách học vẹt ê a của thầy đồ xưa là không chính xác... Trong tranh nghệ nhân chọn thầy là cóc, trò cũng là cóc là có ý tứ: Con cóc ở đây chính là hình tượng có nhân cách: thầy trò đều thuộc hàng có nhân cách mới mong học được chữ của thánh hiền!

Tranh Gà dạ xướng có dòng chữ: Ngũ canh hòa dạ xướng (5 canh con gà gáy đúng thời khắc) lại là lời nhắc nhở về chữ tín mà người đời cần nhớ qua biểu hiện tiếng gà năm canh, dù nắng mưa hay giá rét không bao giờ sai. Đó là đức tính người đời cần ghi nhớ và làm theo.

Tranh Công việc nhà nông lại cho một ý nghĩa khác. Xét kỹ thì đây là bức tranh dạy học, kể về các công đoạn trong việc trồng cây lúa. Nghệ nhân đã mô tả hai câu ca dao rất khéo: Ai ơi ăn bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần, bằng một bức tranh mang tính tổng hợp: làm đất gieo mạ, nhổ mạ cấy lúa, thu hoạch phơi phóng và xay giã nấu thành cơm. Cuối cùng là cảnh sống sung túc: sân nhà gà lợn, có cả chuồng chim bồ câu. Trên trời cao đôi chim én bay lượn, bên dưới bà cháu quấn quýt, khung cảnh thanh bình.

Tranh Công việc nhà nông
Tôi rất thích bức tranh này vì hai lý do: một là nó mở rộng không gian ra vô biên (làm đất gieo mạ, nhổ mạ cấy lúa, gặt đập phơi phóng xay giã và trên cùng là không gian gia đình, đều là những không gian khác nhau được đưa lên cùng một mặt phẳng), hai là đưa cả thời gian một vụ lúa khoảng bốn tháng trời vào trong một tranh. Có rất nhiều nội dung trong một bức tranh như vậy mà vẫn có sự gắn bó khăng khít. Dù không chủ ý, nhưng với cách nghĩ và cách thể hiện giản dị của nghệ nhân, bức tranh này vô tình mang màu sắc đồng hiện. Thời gian và không gian được nghệ nhân đưa lên cùng một mặt phẳng, một thế giới sống rộng lớn. Sau này tranh Hàng Trống cũng có một bức tương tự, nhưng là tranh nằm với lối phô diễn thời gian và không gian như trên, nghĩa là đổi hình thức nhưng không đổi ý...

***

Chỉ giới thiệu một vài bức tranh trên ta cũng đã thấy được cái sâu xa trong cách làm tranh của nghệ nhân xưa. Bức tranh không chỉ là để trang trí mà trong nó còn cả một bài học dài về đạo lý. Hiểu được điều đó ta càng thấy yêu quý những giá trị thầm kín của người xưa để lại. Đó là những trang sách hình chứa đựng tư tưởng, đạo đức, văn hóa, kinh nghiệm sống của một thời truyền cho thế hệ sau rất đáng ghi nhớ!

Đỗ Đức (họa sĩ)
đọc tiếp...

23/06/2009

Nghệ nhân Đông Hồ - chiến sĩ mặt trận văn hóa

Sau bài “Tranh Đông Hồ - thời “văn minh tiến bộ” khám phá những nội dung “bám sát thời cuộc” của dòng tranh này trong thời Pháp thuộc, họa sĩ Đỗ Đức sẽ tiếp tục nói về những đóng góp của tranh Đông Hồ thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước.

>> Tranh Đông Hồ thời "văn minh tiến bộ"
>> "Cày xới" lại trên "mảnh ruộng" Đông Hồ"
>> Triển lãm "Cập Nhật" ăn theo tranh Đông Hồ
>> Triển lãm "Cập nhật" làm mới tranh Đông Hồ?

Từ “diệt giặc dốt” đến bắt giặc lái
Còn nhớ hồi kháng chiến chống Pháp có bốn câu nửa thơ nửa khẩu hiệu ai cũng biết (chỉ không nhớ tác giả là ai): Ruộng đất là chiến trường/Cuốc cày là vũ khí/ Nhà nông là chiến sĩ/ Hậu phương thi đua với tiền phương. Chưa thấy coi nghệ nhân dân gian là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa cả, mà chỉ coi nông dân là chiến sĩ cày cuốc. Vậy mà những nghệ nhân này vẫn tình nguyện vào cuộc làm chiến sĩ văn hóa như ai, mà chẳng cần vận động, chẳng cần mời mọc.
Vừa sản xuất vừa chiến đấu
Tôi nói như vậy là có chứng cứ cụ thể chứ chẳng phải là chuyện vô sở cứ. Những người tình nguyện đó chính là những nghệ nhân làng tranh Đông Hồ. Họ đã chọn cái chỗ chưa được anh tuyên huấn mời gọi, mà là chọn theo tinh thần cụ Hồ “Toàn dân kháng chiến/ Toàn diện kháng chiến”. Họ lầm lũi vẽ và khắc, lấy tiền bán tranh làm lương, lấy niềm tin vào cuộc kháng chiến kiến quốc làm động lực. Bao nhiêu tranh cổ động thời chống Pháp, chống Mỹ bây giờ cất vào tủ lưu trữ làm kỉ niệm thì những tranh kháng chiến của các nghệ nhân Đông Hồ thời ấy bây giờ vẫn bán trên sạp tranh và còn trân trọng được ra nước ngoài nữa kia.

Cô Huyền, một người con dâu của Đông Hồ, chủ cửa hàng tranh Đông Hồ ở số 17 - phố Chân Cầm, Hà Nội khoe với tôi: Có một khách du lịch Mỹ đến, lục trong bộ tranh Đông Hồ cả trăm bức, chỉ để mua có mỗi một bức bắt giặc lái Mỹ nhảy dù. Không kiếm được nhiều nhặn gì ở bà du khách nọ nhưng cô ấy vui, bảo đó là tranh của bố cháu (ông Nguyễn Đăng Chế) làm đã trên bốn mươi năm.
Bắt giặc lái Mỹ nhảy dù
Chẳng lẽ tranh đó lại kém giá trị vì nó là dân gian! Xem tranh của các họa sĩ xịn vẽ về chiến tranh chán rồi, bà ấy muốn được thấy nghệ nhân dân gian vẽ về chiến tranh như thế nào!

Đặc điểm của tranh thời kì này phản ánh rất rõ lòng dân tin yêu tuyệt đối vào cụ Hồ, vào Đảng và Nhà nước. Tất cả phục vụ đường lối kháng chiến vô điều kiện. Nhiều bức tranh vẽ về bình dân học vụ, xóa mù chữ diệt giặc dốt như lời Bác kêu gọi. Hãy cùng nhau xem tranh vẽ buổi biểu diễn văn nghệ, hai cô gái nông dân múa sòn la, có đủ dàn nhạc trống phách, chũm chọe. Trên cùng là cờ tổ quốc và cờ Đảng búa liềm và hai câu ca dao “Cùng nhau múa hát mấy bài/ Khải hoàn ngợi khúc xây đài vinh quang”.

Dòng tranh kháng chiến của Đông Hồ
Những tranh dân gian thời kì này giản dị, giàu chất cổ động hơn là suy ngẫm gửi gắm. So với những tranh xuất hiện cách nay bốn năm trăm năm thì vắng đi chất thâm thúy đồ nho, trội lên là sự hòa nhập xã hội. Tính cộng đồng của tinh thần người dân bộc lộ khá rõ trên mặt tranh. Điều đó cho thấy rõ lớp nghệ nhân mới so với lớp có chữ thời xưa thì họ đơn giản hơn nhiều.

Những năm hòa bình lập lại ở miền Bắc và giai đoạn chống Mỹ, những tranh dân gian vẫn được lớp nghệ nhân kế cận tiếp bước một cách tự nhiên như trách nhiệm công dân, nhưng lại được đẩy lên cao hơn trong cộng đồng với niềm tin mãnh liệt hơn vào chính quyền. Tranh chủ yếu tập trung cho đề tài sản xuất và chiến đấu: Đào mương chống hạn kịp thời/ Thuổng mai cuốc xẻng thay trời làm mưa hoặc truyền bá khoa học kĩ thuật với khẩu hiệu đơn giản dễ hiểu: Dùng công cụ cải tiến,nuôi lợn lấy phân bón để đạt chỉ tiêu 5 tấn thóc một hecta. Các bức tranh phần lớn kèm theo những câu ca dao tục biên được khắc luôn vào ván bằng chữ Quốc ngữ cho dễ thuộc dễ nhớ như lời vận động “Phân nhiều thóc hẳn đầy kho/ Cải tiến công cụ đỡ cho sức người”, hoặc “Hoan hô phụ nữ Việt Nam / Sản xuất chiến đấu đảm đang anh hùng”. Những tranh này vừa phản ánh vừa ca ngợi động viên mọi người hăng hái đóng góp cho Tổ quốc giàu mạnh với niềm tin sắt son vào tương lai tươi sáng của đất nước.
Cùng nhau múa hát mấy bài…
Tất cả những tranh sáng tác trong giai đoạn trên có thể coi là đặc biệt. Đó là dòng tranh kháng chiến của người Đông Hồ. Các nghệ nhân hồ hởi tham gia một cách lặng lẽ khi lắng nghe lời hiệu triệu sản xuất chiến đấu ở trên loa đài. Vẽ tranh dưới tiếng động cơ phản lực có thể bị chúng choang bom bất cứ lúc nào. Vẽ tranh không có đầu tư đặt hàng như các họa sĩ ngày nay, vậy mà vẫn luôn kịp thời có ngay. Không ai nhắc nhở và để mắt nhưng những sáng tác vẫn đi đúng lề đường. Một khi niềm tin đã có thì đúng là muôn việc trở nên dễ dàng. Đóng góp ấy của nghệ nhân Đông Hồ không thể coi là nhỏ nhưng họ chưa bao giờ được ghi danh trong tổng kết, báo cáo hoặc đánh giá về đóng góp trong kháng chiến còn nói chi đến được ghi nhớ trong nghệ thuật đương đại Việt Nam.

Tranh thời kì này do ảnh hưởng của giao lưu với cái mới ngoài lũy tre làng, nghệ nhân vẽ không đơn sơ ngộ nghĩnh như thời kháng chiến chống Pháp, mà là quá chú ý đến bắt chước lối bố cục trường sở, nét vẽ rối rắm như thể là muốn vươn lên đẳng cấp cao hơn. Cũng vì thế mà chất dân gian hồn nhiên nhạt nhòa, bị mai một đi khá nhiều. Nhưng về vai trò của nó với một bộ phận xã hội nông thôn vẫn là có ý nghĩa thực sự. Tôi nghĩ rằng cần nhìn nhận đến giá trị đặc biệt này để vinh danh nghệ nhân Đông Hồ như là một hiện tượng đặc biệt gắn bó với cuộc đấu tranh độc lập dân tộc.

Những bức tranh cổ vũ tinh thần tăng gia sản xuất

Đỗ Đức (họa sĩ)
đọc tiếp...

22/06/2009

Tranh Đông Hồ thời "văn minh tiến bộ"

LTS. Sau khi đăng bài viết nhan đề Cày xới lại trên mảnh ruộng Đông Hồ phản án về triển lãm của họa sĩ trẻ Phạm Huy Thông - đang diễn ra tại Trung tâm Văn hóa Pháp, 24 Tràng Tiền, Hà Nội (kéo dài đến 15/7); TT&VH đã nhận được rất nhiều phản hồi của độc giả. Quả thật, cách “nhại” tranh Đông Hồ để “giễu” các vấn đề của cuộc sống đương đại của họa sĩ trẻ này có thể để lại nhiều tiếng cười sảng khoái. Song cũng có những ý kiến khắt khe cho rằng, như thế có vẻ làm “tầm thường hóa” dòng tranh cổ kính của cha ông.

>> "Cày xới" lại trên "mảnh ruộng" Đông Hồ"
>> Triển lãm "Cập Nhật" ăn theo tranh Đông Hồ
>> Triển lãm "Cập nhật" làm mới tranh Đông Hồ?

Vậy tranh Đông Hồ có thể phản ánh cuộc sống đương đại hay không? Để trả lời cho những thắc mắc này, chúng tôi xin giới thiệu bài viết khám phá những điều thú vị về tranh Đông Hồ - một dòng tranh luôn bám theo thời cuộc.

Từ cảnh nhảy đầm đến… nhà chứa!
Ai cũng biết trong phong trào Âu hóa, cái món “nhảy đầm” đã được du nhập vào Việt Nam khiến các cụ đồ Nho phải lắc đầu lè lưỡi. Nhảy đầm đã đi vào tranh Đông Hồ với bức tranh cùng tên, và hiện nay vẫn còn ván khắc để in. Bức tranh mô tả một quầy bar, có ly, cốc, có bồi bàn, có rượu vang hoặc champagne, hình vẽ cũng thô mộc thôi, nhưng rất rõ một sinh hoạt thuộc địa, với hai cặp giai thanh gái lịch trong điệu valse uyển chuyển.
Nhảy đầm (tranh Đông Hồ)
Bức tranh đôi Phong tục cải lương - Văn minh tiến bộ vẽ ông Tây - bà đầm đi “picnic”, một bên chú thích là Phong tục cải lương, moa tăng phú, còn bên kia: Văn minh tiến bộ, tọa (toa) tăng xương. Theo lý giải của họa sĩ Trần Hậu Yên Thế, thì đây là cách chửi kiểu bồi tiếng Tây của một ông đồ cũng thật hay, Toa tăng xương = Toi attention/ Mày liệu hồn, Moa tăng phú = Moi, je m’enfiche/ Tao mặc kệ. Cả hai câu có nghĩa đầy phẫn nộ: Phong tục thay đổi, thì mày liệu hồn; Văn minh tiến bộ, tao đếch cần.

Bức tranh đôi Phong tục cải lương - Văn minh tiến bộ
Bộ tranh đôi Trai tứ khoái - Gái bảy nghề, nghệ nhân đã rất khéo đổi câu vè quen thuộc trong dân gian chê các cô gái hư hỏng: “Ngồi lê là một, dựa cột (lười nhác) là hai/ theo giai là ba/ ăn quà là bốn/ trốn việc là năm/ hay nằm là sáu/ đánh cháu là bảy” thành “đăng sê (nhảy đầm) là một/ theo mốt là hai/ đánh bài là ba/ đàn ca là bốn/ trốn nhà là năm/ đi săm (nhà chứa) là sáu/ Mang cháu (chửa hoang) là bảy. Bộc lộ sự phê phán riết róng cái việc đánh mất thuần phong để đi vào bại tục.

Chỉ một góc nhỏ thôi trong tranh Đông Hồ đã cho ta thấy nghệ nhân với trách nhiệm xã hội đã đóng vai trò phê phán quyết liệt những thói xấu từ quan trường đến đời sống dân sự. Họ là nghệ nhân nhưng cũng là những nhà báo trứ danh đó chứ!

Tranh Đông Hồ: luôn bám theo thời cuộc
Chỉ từ đời sống dân gian, chẳng có ai định hướng mà tranh Đông Hồ cũng có đủ loại từ tranh giáo khoa, phong cảnh, phong tục, sinh hoạt, tín ngưỡng, tranh truyện (dựa theo cổ tích) tranh lịch sử, châm biếm và hài hước, chẳng thiếu thể loại gì.
Tranh Gái bảy nghề
Có thể nói, một đặc điểm rất đáng nể của tranh Đông Hồ là luôn bám theo thời cuộc. Ta để ý mảng tranh châm biếm, những bức tranh như Trê cóc, Đám cưới chuột, Đánh ghen, Hứng dừa cách nay vài trăm năm đến những tranh Trai tứ khoái, Gái bảy nghề vẽ về thói sinh hoạt đàng điếm của đám trai gái thành thị thời thực dân Pháp đến các tranh vẽ người Pháp Văn minh tiến bộ, Phong tục cải lương cách đây sáu bảy mươi năm tự nhiên đóng vai trò phản biện xã hội với con mắt phê phán khá sắc cạnh. Thế mới biết nghệ nhân quan sát cuộc sống và hiểu cuộc sống khá kỹ lưỡng. Có thể nói đó là loại tranh biếm xuất hiện rất sớm ở Việt Nam, ở tư thế độc lập, cao cấp in màu tử tế và được xã hội chấp nhận, giữ gìn.

Tranh Đám cưới chuột quá nổi tiếng, ai cũng biết nhà chuột trong buổi nghinh hôn phải lo lễ lạt cho bề trên là ông miêu để được vênh vang rước dâu. Nhưng vào thời mua quan bán tước, nghệ nhân ta chế lại hai chữ “nghinh hôn” thành “tiến sĩ”. Cảnh rước dâu thành cảnh rước tiến sĩ vinh quy, cũng lễ lạt cho mèo để được danh phận.

Đám cưới chuột (trái) được “chế” lại thành đám rước Tiến sĩ (dưới) với đầy tính thời cuộc
Ai cũng biết tranh đôi Đánh ghen chê cười cảnh lẽ mọn, ông chồng rụt rè can ngăn vợ cả: Thôi thôi bớt giận là lành... còn Hứng dừa thì “đấy trèo đây hứng” quả là ngoạn mục của sự phồn thực. Nhưng lại có một dị bản Đánh ghen, Hứng dừa nữa của thế hệ sau gần chúng ta hơn, khá đặc biệt với chú thích mới: Ở tranh Đánh ghen, cảnh ông già đang lộn xộn trong cảnh tranh chấp vợ cả vợ bé, ông tuyên bố gân guốc với bà cả “nhân lão tâm bất lão” (người già nhưng lòng chưa già!), quyết tâm giữ bà hai. Còn Hứng dừa thì đi xa hơn trong phồn thực với chú thích lẩy từ câu Kiều có sửa đi đôi chút: “trong như ngọc, trắng như ngà”, chẳng phải là anh chồng đang nói về cô vợ “nuy” sao?

Tranh Đánh ghen và Hứng dừa (cũ)
Tranh Đánh ghen và Hứng dừa (mới)

Đỗ Đức (họa sĩ)
đọc tiếp...

18/06/2009

"Cày xới" lại trên "mảnh ruộng" Đông Hồ"

Như đã đưa tin, những bức tranh của họa sĩ trẻ Phạm Huy Thông lấy bố cục và cảm hứng từ tranh dân gian Đông Hồ đã khai mạc chiều qua (16/6) tại Trung tâm Văn hóa Pháp (24 Tràng Tiền Hà Nội). Xem triển lãm mới thấy giá trị và sức sống bền lâu của nghệ thuật dân gian khi người nghệ sĩ biết cày xới trên mảnh ruộng của cha ông để lại…

>> Triển lãm "Cập Nhật" ăn theo tranh Đông Hồ
>> Triển lãm "Cập nhật" làm mới tranh Đông Hồ?

Tranh Lợn đàn của Đông Hồ (trái) và tranh của Phạm Huy Thông
Sau chuyến đi một ngày ấy, Gérald đã nảy ra ý tưởng sẽ lập một dự án vẽ truyện tranh lấy cảm hứng từ tranh Đông Hồ. Cuốn Kể mới ra đời vào năm 2004 là kết quả của dự án giữa trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội và Alliance Francaise (Trung tâm Văn minh Pháp) do ông khởi xướng đã ra đời.

Phải nói ý tưởng đó thật tuyệt vời nhưng quá trình thực hiện, các họa sĩ trẻ trong đó có những sinh viên đang theo học tại trường đã không làm được theo ý tưởng của Gérald Gorridge. Cuốn sách giống tranh truyện hành động của Âu châu, tinh thần Đông Hồ bị khuất lấp vì các bạn trẻ chưa kịp đọc được cốt lõi tinh thần của người làng Hồ.

Xem các họa sĩ trẻ vẽ hiện đại, học theo tinh thần hội họa phương Tây tôi cứ thấy tiếc tinh thần phương Đông ẩn chứa sau các bức tranh dân gian, tranh thờ cúng khá đặc sắc nhưng không thấy ai tìm hiểu, hoặc tìm hiểu mà chưa thấm để tìm cảm hứng từ đó. Tôi đoán chắc rằng với tinh thần và sức trẻ, một khi đã ngộ ra việc đó thì sẽ có những bức tranh gây biến động đời sống sáng tác trong giới trẻ. Chắc chắn là vậy.

2. Tôi đã không phải chờ lâu. Triển lãm tranh của họa sĩ trẻ Phạm Huy Thông đã làm được điều đó. Lấy cảm hứng từ trong tranh của người xưa để áp vào cuộc sống hôm nay là cách mà Phạm Huy Thông đã khéo léo dùng để tạo ra những bức tranh của mình vừa hóm hỉnh vừa tức cười. Xem đây người ta mới thấy giá trị và sức sống bền lâu của nghệ thuật dân gian khi người nghệ sĩ biết cày xới trên mảnh ruộng của cha ông để lại.

Phạm Huy Thông đã nhìn tranh đôi Tiến tài tiến lộc thành một hình ảnh đối xứng cụ thể đầy chất trào lộng: tiến tài bê hộp bột giặt Tide, tiến lộc thì đang bê chiếc giày trên tay để quảng cáo hàng.

Tranh Rước trống là lũ trẻ vui nhộn đẩy xe kem, ồn ào như chợ vỡ, chơi đàn thả bóng bay trên đường phố.

Tranh nhà nông với con trâu thành ông nông dân ngán ngẩm vì mất đất rao bán trâu và bắn số điện thoại di động lên mình trâu để người mua tiện liên hệ.

Khoáy âm dương trên mình tranh Lợn đàn biến thành những chiếc băng cối đồ sộ, mõm lợn thành muôn vàn những chiếc loa loe xoe như đang muốn rống lên thống thiết. Tiến sĩ vinh quy thời nay ngồi trên xe tăng lao rầm rầm trên đường phố với loa phóng thanh giống các loa công cộng chĩa về mọi ngả, hai bên sườn xe là những trung nam bản xã áp sát tiền hô hậu ủng hết cỡ cho cái vẻ vang công thành danh toại.
Tranh Phú quý của Phạm Huy Thông
Em bé trong tranh Phú quý thì tay cầm micro, tay ôm đài, xung quanh ngổn ngang các thiết bị âm nhạc với đám dây nhợ lằng nhằng cũng đang xả âm thanh chát chúa... Người xem không thể không mỉm cười cách phê phán thời hiện đại được dựng lên từ tinh thần trào lộng của người xưa, quyết liệt hơn người xưa, hài hước hơn người xưa, thật là một sự đồng hành đầy duyên nợ không thể không khiến người xem sau những trận cười vãi nước mắt lại ngậm ngùi về thế sự.

Không thể nói hết cái hay, cái dí dỏm hài hước mà họa sĩ đã khéo đắm mình vào cuộc sống dân gian và thế sự tạo dựng lên trong một bài viết ngắn. Các bạn hãy đến với phòng tranh, đắm mình vào đó để sống với hiện tại và nhớ về cha ông ta một thời, để cùng chia sẻ với họa sĩ và cảm nhận về tinh thần văn hóa một thời của người dân đồng quê Việt.

Đỗ Đức (họa sĩ)
Nguồn: TT&VH
đọc tiếp...

17/06/2009

Triển lãm "Cập Nhật" ăn theo tranh Đông Hồ

Có ý kiến cho rằng tranh của Phạm Huy Thông giễu nhại hay "ăn bám" thương hiệu có sẵn ở tranh Đông Hồ, chẳng khác nào “ruồi bám đuôi ngựa rồi tự khoe khoang chạy hàng ngàn dặm một ngày”.

>> Triển lãm "Cập nhật" làm mới tranh Đông Hồ?
Họa sĩ Phạm Huy Thông

Triển lãm "Cập Nhật" gồm 18 bức tranh acrylic trên toan của hoạ sĩ Phạm Huy Thông thuộc thế hệ 8X đã sử dụng bố cục của tranh in Đông Hồ truyền thống. Có ý kiến cho rằng tranh của Thông giễu nhại sản phẩm in hàng loạt tranh Đông Hồ nhái. Lại có ý kiến cho rằng Thông đang "ăn bám" vào thương hiệu sẵn có là tranh Đông Hồ để làm cái của mình như là “ruồi bám đuôi ngựa rồi tự khoe khoang chạy hàng ngàn dặm một ngày” (ngạn ngữ Trung Quốc).

Về phía mình, họa sĩ Lương Xuân Đoàn cho biết: Tranh Đông Hồ chỉ là một cái cơn cớ để đẩy tới được ý tưởng của tác giả Phạm Huy Thông. Thuộc thế hệ của 8X, Thông có cái nhìn về xã hội và sự bày tỏ cái nhìn bằng một ngôn ngữ nghệ thuật riêng, mà tôi cho rằng ngôn ngữ Pop Art đó mới có thể đủ sức mạnh nội tâm, riết róng trong cách nói về xã hội đương đại.

Treo bên cạnh 18 tác phẩm chính của Thông là những bức tranh Đông Hồ như để ngầm so sánh, nhắc nhớ người ta về lại thời của tranh Đông Hồ. Tranh ấy có đời sống của riêng rồi nên đây cũng không phải là sự giễu nhại. Nó đã có một thời hoàng kim và đó là văn hoá dân gian.
Tankborghini (tên ghép của xe tăng và xe hơi hạng sang Lamborghini) ăn theo tranh Đông Hồ "Vinh quy bái tổ"
Tác phẩm "Dàn loa âm thanh nổi 5.1" ăn theo "Tranh lợn đàn"

Xã hội đương đại đang có biến chuyển nhanh, bản thân nghệ sĩ trẻ muốn tăng tốc để tất cả những biến động này phản chiếu tâm trạng hàng ngày, nỗi bất an của nghệ sĩ . Là người trong cuộc, hoạ sĩ có cái nhìn khác, nhu cầu khác, những cái mà bản thân nó đang là thói quen, đang hình thành thói quen trong xã hội đương đại.

Bên cạnh đó, những chiếc ghế được cắt chân sắp đặt không ngay ngắn thể hiện trật tự xã hội nhìn ở đâu người ta cũng thấy những điều chưa ổn, cần thay đổi và sắp xếp lại. Chính vì vậy nên người trẻ muốn có cú huých để chỗ này bổ khuyết chỗ kia, đôi khi từ sự đổ vỡ, để tìm kiếm sự thay đổi. Như một câu nói của vị tổng thống Hungary: "Khi ta tiếp nhận đổi mới, ta phải làm quen với những tiếng cốc chén vỡ hàng ngày". Và nếu không có cách tiếp cận như vậy rất có thể ta sẽ giật mình, hoảng hốt mỗi khi nghe đổ vỡ từ nhiều phía.

Tác phẩm "Khuyến mãi" ăn theo tranh Đông Hồ "Tấn tài Tấn lộc"

Tác phẩm "Bán trâu" ăn theo "Lão nông tri điền"

Thông không sử dụng mầu của tranh Đông Hồ, mà chỉ lấy lại cấu trúc tranh Đông Hồ. Đáng chú ý là bản thân Thông lại khẳng định tranh trong triển lãm "Cập Nhật" của mình ăn theo tranh Đông Hồ. "Nhiều người hỏi tôi dạo này làm gì? Tôi trả lời: đi chép tranh. Một câu trả lời châm biếm, khối người giật mình, nhưng ăn theo tranh Đông Hồ cũng chỉ là hình thức thôi.

Mỗi bức tranh của tôi có một thông điệp riêng như: Lên án tham nhũng, cười nhạo sự bê tha, bày tỏ nỗi lo với số phận người nông dân... Thông điệp chung của tôi là: Nghệ thuật phải mang tính chiến đấu, chiến đấu cho cái tốt hơn mà mình tin tưởng..."

Từ Nữ Triệu Vương
Nguồn: Vietnamnet
đọc tiếp...

12/06/2009

Triển lãm "Cập nhật" làm mới tranh Đông Hồ?

Triển lãnh tranh 
Thời gian: chiều ngày 16/6 - 15/7
Địa điểm: Trung tâm văn hóa Pháp, HN 
               24 Tràng Tiền, HN

Triển lãm "Cập nhật" bao gồm 18 bức tranh acrylic trên toan, được sáng tác trong thời gian cuối năm 2008 đầu năm 2009. Rất nhiều tranh trong triển lãm sử dụng bố cục của tranh in Đông Hồ truyền thống nhưng được cập nhật với những câu chuyện của xã hội đương đại.
Phạm Huy Thông đặc biệt quan tâm tới sự phát triển của xã hội và những hiện tượng xã hội nảy sinh từ đó. Với tác phẩm của mình anh như một nhân chứng của thời đại ngày nay. Với anh, nghệ sỹ không chỉ có trách nhiệm về mặt thẩm mỹ mà còn bằng hành động và suy nghĩ riêng của mình lưu giữ khoảnh khắc lịch sử thông qua những biến chuyển của xã hội.

MDT
đọc tiếp...
 

Maudantoc.com trên Facebook
Theo đuôi Maudantoc.com trên Twitter
Maudantoc.com trên Yahoo! Pulse

free counters
Blog Màu dân tộc | Mua tranh Đông Hồ | Thỏa thuận sử dụng nội dung | Sơ đồ trang | Góc báo chí | Liên hệ

Bản quyền 2009 - 2011 Boong bảo lưu mọi quyền.